Chương 5: Ba sào ruộng đầu đầm
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Quán nước bà Tẹo là cái lều tre dựng ở góc sân đình, có một chõng tre, một ấm chè tươi ủ trong giỏ, một lọ kẹo lạc. Người già trong làng ngồi đấy từ sáng đến trưa, chuyện gì của Thượng Đồng bà cũng biết, chuyện gì bà cũng kể, chỉ cần người ta chịu ngồi nghe.
Chủ nhật, tôi mang hai nghìn ra mua bát chè, ngồi xuống chõng. Đợi mấy ông già về hết, tôi hỏi bà vì sao họ Đỗ với họ Phạm không nhìn mặt nhau.
Bà Tẹo nhìn tôi một lúc, rồi rót cho tôi thêm bát nữa, không lấy tiền.
"Năm năm lăm, đội cải cách về làng. Ông nội mày hồi ấy đi ở cho nhà cụ Khiêm bên xóm Đoài, nghèo nhất xóm, đội về bắt rễ ông mày trước tiên."
Cụ Khiêm là bố ông Quý, ông nội anh Thịnh. Nhà cụ có năm mẫu ruộng, một cái máy xay thóc chạy dầu, một cái nhà ngói năm gian. Bà Tẹo bảo cụ không ác, mùa giáp hạt còn cho người làng vay thóc không lấy lãi. Nhưng đội cần một địa chủ, mà cả xóm Đoài chỉ có nhà cụ là nhà ngói.
"Ông mày đứng ở sân đình này, chỉ tay vào mặt cụ. Đội bảo nói gì thì nói nấy. Cụ bị trói ở gốc đa kia ba ngày, rồi đưa đi giam. Mùa đông năm ấy cụ chết trong trại. Năm sau trên về sửa sai, bảo quy nhầm, trả lại thành phần. Người thì không trả được."
Ruộng nhà cụ chia cho cố nông trong làng. Ông nội tôi được ba sào ruộng ở đầu đầm Lác. Ba sào ấy bây giờ nhà tôi vẫn cấy.
Bà Tẹo kể đến đấy thì chép miệng. Bà bảo lúc ông nội tôi sắp mất, ông có sai bố tôi sang xóm Đoài mời ông Quý sang, mà ông Quý không sang. Từ đấy thôi, không ai sang ai nữa.
"Thế cô Lụa nhà mày ngày xưa cũng..."
Bà ngừng lại giữa câu. Ở đầu sân đình, ông Quý vừa đi qua, vai vác cái cuốc, điếu cày giắt sau lưng. Ông không nhìn vào quán. Bà Tẹo cúi xuống thổi bếp, không nói nốt.
Tôi về nhà, trong đầu cứ ba sào ruộng đầu đầm. Ruộng ấy nằm sát mép lò gạch nhà bà Lừng, cách cái hố chị tôi chết không đến trăm bước chân.
Buổi tối u tôi ngồi khâu áo dưới đèn. Tôi ngồi xuống bên cạnh, hỏi u về đôi dép cánh sen. Tôi hỏi thật có phải chị mua ở chợ Bo không.
U khâu thêm mấy mũi nữa rồi mới nói.
"Nó bảo nó mua. Tiền thêu tháng nào nó cũng đưa u đủ, u biết. Nó lấy đâu ra tiền mua đôi dép phố ấy."
U cắn đứt sợi chỉ. Rồi u kể cho tôi một chuyện mà u bảo chưa kể với ai, kể cả bố.
Sáng rằm tháng Giêng, lúc người ta đang khiêng chị từ đầm về, u vào buồng chị lấy bộ quần áo sạch để thay cho chị. U cúi xuống gầm giường. Ở đó có một cái túi vải dù buộc sẵn. Trong túi có hai bộ quần áo, cái khung thêu nhỏ, một cái lược, hai trăm nghìn đồng gói trong khăn mùi xoa, và cái chứng minh thư của chị.
"Nó định đi. Đêm hôm ấy nó định bỏ đi."
U nói, mắt vẫn nhìn vào cái áo đang khâu. U bảo hôm ấy u đem cái túi ra sau bếp đốt, đốt sạch, không để bố biết. Con gái bỏ nhà đi trước hôm ăn hỏi thì nhục cho bố, nhục cho cả nhà bà Lừng, mà người đã chết rồi thì nhục cũng chẳng để làm gì.
Tôi hỏi u chị định đi với ai. U lắc đầu.
"U không biết. U không dám biết."
Hai hôm sau, bà Lừng sang.
Bà đến lúc nhà đang ăn cơm chiều. Bà không vào, đứng ở giữa sân, cái nón lá còn đội trên đầu. Anh Chiến đứng sau bà, mặt đỏ vì rượu, tay đút túi quần. Bà Lừng nói với bố tôi, giọng rành rọt như đọc giấy:
"Tôi thương con bé. Nhưng không cưới thì nhà ông trả vàng. Bảy chỉ. Tôi cho đến hết tháng Năm."
Bố tôi đặt bát xuống mâm. Bố chống nạng đứng dậy, ra đến bậc thềm. Bố nói nhà tôi sẽ bán ba sào ruộng đầu đầm.
Bà Lừng gật đầu, như đã chờ câu ấy. Anh Chiến đứng sau bà cười khẩy một tiếng, rồi nói, không to không nhỏ:
"Ba sào ruộng địa chủ. Bán cho nhà tôi thì mai tôi xúc đất đóng gạch."
U tôi đứng dậy khỏi mâm, đi vào bếp. Bố đứng ở bậc thềm cho đến lúc hai mẹ con nhà ấy ra khỏi ngõ. Đêm ấy bố uống hết nửa chai rượu, rồi ngồi một mình ở hiên đến khuya, không vào nhà.
Đêm ấy phòng thờ không có tiếng cười. Chỉ có tiếng thì thầm, rất lâu. Rồi im. Rồi có một tiếng động nhỏ, gỗ khẽ chạm vào gỗ, như ai đặt một vật xuống án gian. Sáng ra ảnh anh Lượng lại úp mặt. Còn trăm ngày của chị thì chỉ còn mười chín hôm nữa.
Tôi ngồi ở bậc thềm nhìn sang dãy nhà ngang và đếm lại những gì tôi biết. Chị tôi có một người gọi chị là Nhím. Chị có một đôi dép không phải tự mua. Chị đã định bỏ đi đêm mười bốn. Và người mà ngày ngày cả nhà tôi thắp hương mời về làm chồng chị, đêm nào cũng nói chuyện với chị mà không cười lấy một lần.
Tôi không nằm buồng cô Lụa nữa.
Tối hôm sau, chờ cả nhà ngủ say, tôi ôm một manh chiếu cói, một cái chăn mỏng, rón rén đi qua sân sang dãy nhà ngang. Cửa phòng thờ khép hờ. Tôi đẩy nhẹ. Bên trong tối, chỉ có đốm hương tàn trên án gian đỏ lên ba chấm.
Tôi trải chiếu ngay dưới gầm án gian, sát đôi dép cánh sen, rồi nằm xuống.