Chương 7: Hộp thư nhà binh
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Bà Mão đến lúc mặt trời chưa lên khỏi lũy tre. Bà cầm chiếc dép bùn lên, lật qua lật lại, rồi đưa cho u tôi đem ra cầu ao rửa. Bà bảo không giữ được đến trăm ngày nữa. Vía con bé đã bước ra khỏi cửa rồi, giữ lâu thì nó đi lạc, mà đi lạc ngoài đầm thì không ai gọi về được.
"Rước sớm. Càng sớm càng tốt. Để nó về nhà chồng, có người giữ."
U tôi sang xóm Đoài ngay buổi sáng. Đến trưa u về, bảo ông Quý đã bằng lòng. Ngày rước là ngày mười hai tháng Tư âm lịch. Còn ba hôm.
Bố ngồi nghe, không nói gì. Bố nhìn chiếc dép u vừa rửa xong phơi trên bậc thềm. Nhựa màu cánh sen đã xỉn đi, quai dính một vệt bùn không kỳ sạch được.
Cô Lụa nghe tin thì đi thẳng vào phòng thờ.
Đấy là lần đầu tiên cô bước qua cửa phòng thờ kể từ lễ cưới. Cô đi như người mộng du, không nhìn ai. Cô cầm tấm ảnh anh Lượng trên án gian lên, ôm vào ngực, rồi ngồi sụp xuống nền gạch. Cô khóc không ra tiếng, chỉ có hai vai rung lên.
U tôi chạy vào, định gỡ tấm ảnh ra. Cô Lụa hét lên, một tiếng chói như tiếng lợn bị chọc tiết. Cả xóm chắc nghe thấy. Bố chống nạng sang đến cửa, quát:
"Lụa. Mày điên à?"
Cô Lụa ngẩng lên. Mặt cô ướt nhoè. Cô nói, giọng bình tĩnh đến lạ:
"Anh ấy là của em. Anh biết. Cả nhà này biết. Anh gả anh ấy cho con anh, rồi bắt em đứng thắp hương."
Bố đứng sững ở cửa. Một lúc, bố quay đi. Bố không nói gì nữa, nhưng tôi thấy cái nạng gỗ trong tay bố run lên từng chặp.
Chiều hôm ấy cô Lụa gọi tôi vào buồng.
Cô lôi từ dưới gầm giường ra một cái hộp sắt đựng bánh quy, nắp hoen gỉ, hình hoa hồng trên nắp đã bạc màu. Trong hộp là một xấp thư buộc bằng sợi chun. Giấy pơ-luya mỏng, gấp hình tam giác kiểu nhà binh, ngoài đề "Người nhận: Phạm Thị Lụa, xóm Đông, Thượng Đồng". Chữ nghiêng, nắn nót.
Có mười bốn lá. Lá đầu tiên đề ngày tháng Mười năm bảy mươi. Lá cuối cùng gửi từ Quảng Trị, tháng Sáu năm bảy hai.
Cô Lụa không cho tôi đọc hết. Cô chỉ mở lá cuối, đưa cho tôi xem mấy dòng ở giữa. Mực đã nhạt màu nước chè.
"Anh về thì mình cưới. Hai bên không cho thì mình ra bờ đê dựng cái lều mà ở. Em đợi anh nhé, Lụa."
Cô kể. Năm cô mười bảy, anh Lượng mười chín. Hai người gặp nhau ở bờ đê, nơi người hai xóm cùng ra cắt cỏ. Ông nội tôi biết thì đánh cô một trận, nhốt trong buồng ba ngày. Ông Quý biết thì cấm em, bảo con cháu cụ Khiêm mà lấy con thằng chỉ tay vào mặt bố mình thì cụ dưới mồ không nhắm mắt.
Anh Lượng xung phong đi bộ đội, bảo đi để hai nhà quên chuyện cũ, về có chút công trạng thì xin cưới. Trước hôm đi, anh trồng một cây nhài trong vườn nhà ông Quý, bảo cô mỗi lần nhìn thấy hoa nhài thì nhớ anh. Ngày còn ở làng, sáng nào anh cũng ngắt một bông, lén cài lên song cửa sổ buồng cô.
"Sáng hôm nọ thấy bông nhài trên song cửa phòng thờ, cô tưởng anh ấy về. Về mà không phải về với cô."
Giấy báo tử về đầu năm bảy ba. Cô Lụa đợi thêm ba năm, rồi năm năm, rồi thôi đợi. Người ta mai mối thì cô lắc đầu. Cô ở với ông bà, rồi ở với nhà anh trai, ngày thêu, đêm thắp hương ở buồng mình, gọi anh mỗi tối bằng đúng một câu:
"Sao anh không đến? Em đợi anh mãi."
Tôi nhìn cô. Cô gật đầu, như đọc được trong mắt tôi.
"Đêm nào cô cũng gọi thế. Hai mươi sáu năm. Thế mà hôm nọ nghe cái Nhài nói đúng câu ấy, cô tưởng mình nghe nhầm."
Cô thú nhận cả chuyện tấm ảnh. Đêm nào cô cũng dậy, lén sang phòng thờ, úp ảnh anh Lượng xuống. Sợi chỉ đỏ của bà Mão là cô cắt bằng cái kéo thêu. Cô bảo cô biết mình điên, biết là tội với cháu, nhưng cô không chịu được anh ấy cứ nghiêng mặt nhìn sang người khác.
"Cô xin lỗi con bé rồi. Đêm nào cô cũng xin lỗi."
Tôi hỏi cô thế thì đêm nào chị tôi cũng nói chuyện với anh Lượng, cô có nghe thấy giọng anh không.
Cô Lụa nhìn tôi rất lâu.
"Anh Lượng chưa về bao giờ, Hạnh ạ. Hai mươi sáu năm cô gọi, anh ấy chưa về lần nào. Không một giấc mơ. Người chết không về vì người sống gọi đâu."
Tôi kể cho cô chuyện đêm qua. Đốm đỏ ngoài ao, tiếng thì thầm ở ngoài song cửa, tiếng lội nước về phía đầm. Chị tôi bảo người ta về đi, sương xuống rồi. Cô Lụa nghe đến đốm đỏ thì nhíu mày.
"Đốm đỏ thế nào? Như đầu điếu thuốc à?"
Tôi gật. Cô lắc đầu, chậm rãi.
"Anh Lượng không hút thuốc. Phổi anh ấy yếu, đi khám tuyển suýt trượt. Cả đời anh ấy chưa cầm điếu thuốc lá nào."
Cô buộc lại sợi chun quanh xấp thư, đặt vào hộp, đậy nắp. Bên ngoài trời đã nhá nhem. Dưới ao, ếch nhái bắt đầu kêu. Cô Lụa ngồi im, hai tay đặt trên nắp hộp sắt. Rồi cô hỏi tôi, giọng rất khẽ, như sợ bên kia vách có người nghe:
"Thế cái người đứng ngoài ao, đêm nào cũng nói chuyện với chị mày, là ai?"