☾ Truyện Ma Có Thật
← Dấu tay trên gạch nung

Chương 10: Chị lấy cho

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Ba ngồi xuống bộ ván, đối diện tôi. Má ngồi xích ra một bên. Con trâu đất nung nằm giữa ba người. Ba không đụng vô nó.

Ba kể. Ba kể chậm, có chỗ ngừng lâu tới nỗi tôi tưởng ba không kể nữa. Ba không nhìn tôi, ba nhìn ra cửa sổ, chỗ thấy được cái vòm lò số ba trùm dây khô.

Tháng Tư năm đó, con Đa nặn cho tôi con trâu. Tôi nằng nặc đòi đem nung cho cứng như gạch. Con Đa lén nhét nó vô lò số ba lúc chất gạch mộc, đặt tuốt đằng trong sát vách hậu, chỗ lửa dồn vô, nói nung ở đó mới đỏ đẹp. Hai đứa giấu không cho người lớn biết, vì ba cấm nhét đồ chơi vô lò.

Ngày mười bốn tháng Sáu, lò ba mở gấp cho kịp ghe Sa Đéc. Tôi theo ra miệng lò đòi trâu. Thợ dỡ từ ngoài vô, tới trưa còn chưa tới vách hậu. Tôi ngồi ngoài miệng lò khóc, sợ thợ lấy mất, sợ trâu bể. Con Đa đang nghỉ tay, ngồi uống nước dưới gốc gòn. Nó đi lại vuốt đầu tôi.

"Ba đứng ở bến trấu, ba nghe nó nói với con. Nín đi Thảo con, chị lấy cho."

Ba nói tới đó thì ngừng. Ba móc thuốc ra, châm mấy lần không cháy, rồi bỏ điếu thuốc xuống ván.

Lúc đó thợ đã ra nghỉ trưa hết. Con Đa nhỏ con, nó chui vô một mình, bò qua mấy chồng gạch còn nóng, tới tận vách hậu. Ba thấy nó chui vô. Ba không cản. Ba còn đang cãi với ông lái ghe chuyện giá. Ba nghĩ con nhỏ quen rồi, vô lấy món đồ chơi rồi ra liền.

"Ba quên nó. Ba quên nó cả tiếng đồng hồ, Thảo."

Tới khi tôi chạy lại níu áo ba, khóc nói chị Đa chưa ra, ba mới nhớ. Ba quấn khăn ướt, chui vô. Trong lò lúc đó nóng như ruột cái chảo. Gạch dưới tay, dưới đầu gối nóng tới nỗi ba nghe da mình dính vô gạch, xé ra từng mảng. Ba bò tới vách hậu.

Con Đa nằm co dưới chân vách, nghiêng một bên, mặt áp xuống nền gạch. Tay trái nó chống lên vách, bàn tay xoè ra, như đang ráng đứng dậy. Tay phải nó ôm con trâu đất vô ngực, ôm chặt.

Ba lay nó, kêu nó. Nó không động đậy. Ba áp tai lên ngực nó. Ba nói ba không nghe gì hết. Ba nói lúc đó tai ba ù đặc, tim ba đập thình thịch, ba không biết mình có nghe đúng không.

"Ba kéo nó ra được tới nửa lò. Rồi ba ngừng."

Má khóc thành tiếng. Ba vẫn nói, đều đều.

Ba ngồi trong lò, ôm con nhỏ, nghĩ tới mẩu báo cắt để trong ngăn kéo. Nghĩ tới lò ông Chín Sang kế bên vừa bị phạt, bị đóng cửa, ông Chín đi lên huyện mấy bận vì thuê hai đứa con nít mười ba tuổi bưng gạch mộc. Còn ba, con nít mười một tuổi, chết trong lò của ba, vì ba mở lò sớm, vì ba sai nó vô sâu, vì ba quên nó cả tiếng đồng hồ. Ba nghĩ tới tù. Nghĩ tới lò bị niêm phong. Nghĩ tới má với tôi.

"Ba kéo nó vô lại."

Ba đặt con Đa vô lại chỗ vách hậu. Ba gỡ con trâu đất ra khỏi tay nó. Mấy ngón tay nó quặp cứng, ba phải banh từng ngón. Lúc banh, cái sừng trâu gãy, kẹt lại trong lòng tay nó. Ba không gỡ cái sừng ra nữa. Ba lấy gạch trong lò chất lên che nó lại, rồi bò ra.

Ba đuổi thợ về, nói vòm lò kêu răng rắc. Ba đuổi luôn ông Bảy. Tối đó ba chở xi măng, chở cát, trộn hồ một mình bên miệng lò, thắp cây đèn bão. Ba xây.

"Xây gần xong lớp một thì ba nghe."

Ba nhìn tôi lần đầu tiên từ lúc ngồi xuống. Mắt ba đỏ, khô khốc, không có nước mắt.

"Nó hát. Từ trong lò. Bài ru của tụi nó. Nhỏ xíu, đứt quãng, như người ta hát trong lúc ngủ mê."

Tôi nghe lạnh từ gáy chạy xuống tới gót chân. Vết phỏng trên cổ tay tôi giật lên một cái.

"Ba đứng đó. Ba cầm cái bay. Ba nói với mình là gió. Là tai ba ù. Là ba điên rồi."

"Ba nói vậy hoài, ba nói thành tiếng. Ba không nghe. Ba không nghe."

Ba nói tiếp, giọng vỡ ra:

"Nó hát tới câu chót, nó đổi chữ. Nó hát Mê ơi, chờ con về. Ba nghe rõ ràng. Rồi ba trét thêm một lớp hồ nữa. Rồi ba xây thêm một lớp gạch nữa. Tới gần sáng thì hết nghe."

Không ai nói gì. Ngoài sân, gió từ kinh Thầy Cai thổi vô, lùa qua mấy hàng gạch mộc, nghe như tiếng người thở dài.

Sáng hôm sau ba băng tay, nói với má là phỏng trấu. Ba đem con trâu đất về đặt bên gối tôi, nói ba lượm ngoài sân. Tôi lên cơn sốt từ trưa hôm đó. Một tuần sau, tôi tỉnh dậy và không còn nhớ gì về chị Đa, về lò số ba, về buổi trưa tôi ngồi khóc đòi trâu. Ba nói ba mừng. Ba nói rồi ba thấy mình là đồ chó, vì đã mừng.

Bà Sa Ri lên kiếm con. Ba nói con Đa theo xe hàng lên Sài Gòn. Ba đưa bà năm trăm ngàn. Lần cuối bà lên, bà ngồi trước miệng lò số ba khóc cả buổi. Ba đứng trên bến trấu nhìn xuống, ba không dám lại gần.

Mười sáu năm, ba cấm con nít vô lò. Mười sáu năm, ba thắp nhang ở cái miễu ông Địa ba xây dưới chân lò số ba. Ba nói ba không thắp cho ông Địa.

Ba cầm con trâu đất nung lên, lần đầu tiên. Ba lật bụng nó, rà ngón tay lên cái dấu ngón cái cong.

"Ba không biết lúc ba xây, nó còn sống hay chết rồi, Thảo. Mười sáu năm ba không dám biết."

Ba đặt con trâu xuống, đứng dậy, đi ra phía cửa. Tới cửa, ba quay lại, nhìn má, nhìn tôi.

"Mai kêu người tới đập lò. Rồi con chở ba lên xã."