Chương 9: Ba tờ giấy bị xé
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Đêm đó không ai ngủ. Má bôi kem đánh răng lên cổ tay tôi, rồi thấy không ăn thua, má bôi mỡ trăn, như hồi năm chín mươi tám má bôi cho ba. Vết phỏng hình bàn tay nhỏ đỏ lừ, phồng lên thành từng bọng nước theo đúng năm ngón. Má nhìn nó, rồi nhìn ra cửa, rồi khóc không ra tiếng.
Anh Sơn lấy mấy viên gạch nhét lại cái lỗ trên miệng lò số ba. Anh không dám trét hồ. Anh chỉ chèn cho kín, rồi thắp một nén nhang cắm trước đó, chắp tay xá ba cái theo kiểu người Khmer.
Ba ngồi một mình ở bến trấu tới sáng. Tôi đứng trên gác nhìn xuống, thấy đốm lửa đầu điếu thuốc của ba lúc tỏ lúc mờ. Hết điếu này ba đốt điếu khác. Gần sáng ba đứng dậy, đi ra mé nước, rửa hai bàn tay rướm máu, rửa lâu lắm, rồi ngồi xuống lại.
Sáng ra, ba vô nhà, nằm trong buồng, kéo mùng xuống. Má bưng cháo vô, ba không ăn. Má kêu, ba không trả lời.
Tôi ngồi ở bộ ván ngoài, nhìn con trâu đất nung để trên bàn.
Sáng nay nó nguội rồi. Nó chỉ còn là một con trâu nặn vụng, gãy sừng, đỏ au. Tôi lật bụng nó lên, coi lại cái dấu ngón cái cong. Tôi nghĩ tới câu đứa nhỏ nói đêm qua. Chị lấy được rồi nè. Chị lấy cái gì. Lấy ở đâu.
Tới trưa, tôi đi vô buồng. Ba nằm quay mặt vô vách. Tôi không nói gì với ba. Tôi mở cái rương gỗ ở góc buồng, chỗ ba cất giấy tờ đất, giấy phép lò, sổ đỏ. Má đứng ở cửa, nhìn tôi, không cản.
Dưới đáy rương có một cái hộp thiếc đựng bánh Trung thu cũ, nắp in hình chị Hằng đã tróc sơn. Hộp nhẹ hều. Tôi mở ra.
Trong hộp là ba tờ giấy học trò gấp làm tư, giấy vàng ố, mép răng cưa. Tôi trải ra trên bộ ván. Mép răng cưa của ba tờ khớp với mấy mép giấy còn dính trong cuốn sổ công năm 1998.
Kẹp chung với ba tờ giấy là một mẩu báo tỉnh cắt bằng kéo, đề tháng Năm năm 1998. Tin ngắn chừng mười dòng: đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện mấy lò gạch ở Mang Thít thuê trẻ em dưới mười lăm tuổi. Các lò đó bị lập biên bản, phạt tiền, đình chỉ hoạt động, có trường hợp chuyển hồ sơ để xem xét xử lý hình sự. Ba lấy bút bi gạch dưới mấy chữ cuối.
Tờ thứ nhất là trang ngày mười bốn tháng Sáu, ghi tiếp danh sách đội dỡ lò số ba, số xe gạch dỡ ra buổi sáng. Ở dưới cùng, chữ ba, nét run, không còn là chữ ghi sổ nữa:
"Chiều. Con Đa trong lò. Hết thở. Tay còn cầm."
Câu đó ngừng ở đó. Không ghi cầm cái gì.
Tờ thứ hai là một bảng kê, kiểu ba hay kê vật tư. Xi măng hai bao. Cát một xe ba gác. Gạch thẻ hai trăm viên. Dưới bảng kê, cũng nét chữ đó, ghi: "Xây xong lớp một. Gần khuya."
Rồi một dòng nữa, chữ to và xiêu vẹo, như viết trong lúc tay không còn cầm vững viết:
"Nó hát."
Tôi lật sang tờ thứ ba.
Tờ thứ ba không có bảng kê nào. Không có số má nào. Từ đầu trang tới cuối trang, cả hai mặt, chỉ có một câu viết đi viết lại, chữ chồng lên chữ, có chỗ bút bi đè mạnh tới thủng giấy. Câu đó là: "Ba không nghe. Ba không nghe. Ba không nghe."
Tôi ngồi trên bộ ván, hai tay đè lên ba tờ giấy. Vết phỏng trên cổ tay tôi nhức buốt lên theo nhịp tim. Ngoài sân, máy đùn nằm im. Lò số một đã cạn trấu từ đêm qua, không ai nạp thêm, khói tắt dần.
Má đi lại, đứng sau lưng tôi, đọc. Má đọc tới tờ thứ ba thì ngồi sụp xuống bộ ván, hai tay ôm mặt.
"Trời ơi, ông ơi."
Tôi hỏi má:
"Má. Năm đó, sau bữa ba phỏng tay, con có bệnh gì không má?"
Má ngẩng lên nhìn tôi, mặt ướt.
"Con sốt. Sốt mê man một tuần, nói sảng suốt. Má tưởng mất con rồi. Hết sốt rồi con quên hết. Hỏi gì cũng nói không nhớ. Má mừng con quên."
"Con nói sảng cái gì má?"
Má nhìn xuống ba tờ giấy. Môi má run.
"Con kêu chị Đa ra đi. Kêu hoài. Chị Đa ra đi, con không lấy trâu nữa."
Trong buồng có tiếng mùng bị vén lên.
Tôi quay lại. Ba đứng ở cửa buồng, một tay vịn khung cửa. Mặt ba hốc hác, râu lởm chởm, mắt đỏ ngầu. Ba nhìn ba tờ giấy trải trên bộ ván. Rồi ba nhìn con trâu đất nung.
Ba không giận. Ba không giật lấy mấy tờ giấy. Ba chỉ đứng đó, nhìn con trâu, lâu lắm. Cái nhìn của một người thấy lại món đồ mình đã chôn đi mà nó cứ trồi lên.
"Con trâu đó ba không có lượm ngoài sân."
Ba nói, giọng khàn đặc.
"Ba gỡ nó ra khỏi tay con nhỏ."