☾ Truyện Ma Có Thật
← Dấu tay trên gạch nung

Chương 6: Vách lò ấm tay

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi không gọi ba. Tôi đứng sau gốc dừa cho tới khi ba đứng dậy, phủi đầu gối, đi về nhà trên bằng con đường vòng sau bếp. Ba đi chậm, lưng còng xuống, như một ông già bảy chục chớ không phải năm mươi tám.

Đợi ba đi khuất, tôi mới lại gần miệng lò số ba. Tôi đặt bàn tay lên đúng chỗ ba vừa áp.

Vách gạch ấm.

Không phải cái ấm của gạch phơi nắng cả ngày rồi còn sót lại. Trời đã tối, sương đã xuống, cỏ quanh chân lò ướt đẫm. Mà lớp gạch xây bít ấm như da người, ấm từ trong ra. Tôi áp lâu chừng nào, hơi ấm càng thấm lên cổ tay tôi chừng đó. Tôi giật tay về.

Sáng hôm sau tôi kêu anh Sơn ra coi. Anh đi một vòng quanh lò số ba, cúi xuống vạch đám cỏ hôi dưới chân vòm. Cỏ quanh lò một khoảng chừng hai sải tay đã héo vàng, mềm nhũn, như bị dội nước sôi. Mấy sợi dây bìm bìm trùm lên vòm, lá cũng quăn queo lại, khô rang.

"Lò này đốt mười sáu năm trước. Giờ nó nóng như mới tắt lửa."

Anh nói rồi lắc đầu, không nói nữa.

Trưa đó chị Sóc đi. Chị gói đồ vô hai cái bao cát, đứng chờ xe ôm ngoài đầu ngõ. Anh Sơn ở lại thêm ít bữa cho ba kiếm người coi máy đùn. Lúc chị lên xe, chị dúi vô tay tôi một gói giấy báo.

"Viên gạch hôm bữa. Em chôn ở gốc gòn. Sáng nay nó trồi lên. Cô giữ đi, em không dám."

Tôi mở gói giấy ra. Viên gạch ống đó đã nứt làm hai, nứt ngay giữa dấu bàn tay đang quặp lại. Tôi cầm hai nửa lên. Ở mặt trong của chỗ nứt, trong ruột gạch, cũng in nguyên một dấu tay, năm ngón quặp lại y vậy. Như dấu tay đó không phải in lên gạch, mà gạch đã được đóng ra từ quanh bàn tay đó.

Chiều tôi ngồi với má trên bộ ván nhà trên, trong lúc ba đi chở trấu. Tôi không vòng vo nữa. Tôi kể má nghe chuyện cuốn sổ lương năm chín mươi tám, chuyện ông Bảy, chuyện ba quỳ trước lò số ba.

Má ngồi im. Tay má vuốt vuốt cái mép chiếu đã sờn.

"Má biết gì, má nói con nghe đi má."

"Má không biết. Má không dám biết."

Má kể rằng năm đó, một đêm tháng Sáu, ba đi ra lò tới gần sáng mới về, áo quần dính đầy hồ xây với bụi gạch. Hai bàn tay ba phồng rộp lên như hai cái bánh phồng tôm. Má hỏi, ba nói đừng hỏi. Má bôi mỡ trăn cho ba, ba nghiến răng không rên một tiếng.

"Từ bữa đó tới giờ, năm nào tới tháng Sáu ba con cũng nằm mơ. Ổng la trong giấc ngủ, la một câu thôi."

"Câu gì má?"

Má nhìn ra sân lò, nơi lò số ba trùm dây khô đứng riêng sát bờ ao.

"Ra đi con. Ra đi con."

Tôi ngồi lặng. Má quay sang nắm tay tôi, tay má khô và run.

"Thảo, con đừng đào bới nữa. Ba con già rồi. Má xin con."

Tối đó tôi lên gác sớm. Tôi lấy con trâu đất nung trên kệ xuống, đặt lên lòng bàn tay, ngồi coi dưới ánh đèn. Con trâu nhỏ bằng nắm tay, nặn vụng, hai chân trước dài hơn hai chân sau, một sừng gãy cụt. Đất nung đỏ au, cứng như đá, gạch thường không đỏ được tới vậy. Phải nằm sát vách hậu của lò, chỗ lửa dồn vô nóng nhất, mới ra màu đó.

Tôi lật con trâu lên coi bụng. Dưới bụng có một dấu ngón tay cái in vô, nhỏ, cong vô trong.

Không phải ngón tay tôi. Ngón cái tôi thẳng.

Tôi đặt con trâu lại lên kệ, ngó nó một hồi lâu. Tôi nhớ ra một khúc mà mười sáu năm nay tôi đã không nhớ. Một buổi sáng nóng, tôi ngồi khóc ngoài miệng một cái lò, khóc tới khan cổ. Có ai đó vuốt đầu tôi, nói "nín đi Thảo con, chị lấy cho". Tôi không nhớ được gì hơn. Không nhớ là lò nào, không nhớ người đó có quay ra không.

Tôi tắt đèn, nằm xuống. Ngoài sân, lò số một đỏ lửa. Dế kêu trong bãi gạch vụn, rồi nín.

Tôi không biết mình ngủ quên bao lâu. Tôi tỉnh dậy vì nóng. Căn gác nóng hầm hập như ai vừa mở cửa lò ngay dưới chân giường. Mồ hôi tôi ướt đẫm lưng áo, tóc bết vô trán. Mùi đất sét nung xộc lên, khét nghẹt.

Tôi ngồi dậy, quơ tay bật đèn. Bóng đèn chớp một cái rồi sáng.

Kệ sách trống. Con trâu đất nung không còn ở đó. Chỗ nó đứng chỉ còn một vệt đất sét đỏ ướt, và một dấu bàn tay nhỏ chống lên mặt kệ, như có đứa nhỏ đã nhón chân với lấy nó.

Từ ngoài sân, tiếng hát vọng lên. Lần này không phải từ hàng gạch mộc. Tiếng hát từ phía bờ ao, và nó không còn đi dọc sân nữa. Nó đứng yên một chỗ, ngay trước miệng lò số ba, như người ta đứng chờ ai.