Chương 4: Ông khách bán hành
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi nghĩ câu đó là câu con nít ganh tị. Má thương chị Hai hơn, má nắm tay chị Hai, không nắm tay em. Đứa nhỏ nào cũng có lúc nói vậy. Tôi nhớ hồi xưa Lộc hay giành chỗ ngồi trên đùi má, đẩy tôi ra. Tôi nghĩ vậy, và tôi thấy thương nó hơn là sợ.
Tôi đi bán lại. Tôi vẫn viết dãy số lên mu bàn tay mỗi sáng.
Gần cuối tháng Chín, có một ông khách lạ ngồi ở băng đá gần chỗ tàu cập. Ông chừng sáu mươi, người đen, gầy, tóc cắt ngắn bạc trắng, mặc áo sơ mi ngắn tay đã sờn cổ, dưới chân để hai bao lưới hành tím. Ông kêu tôi lại mua hai tờ. Ông đưa tờ năm chục, tôi lục túi thối tiền. Ông cầm tiền thối, mà mắt ông nhìn xuống mu bàn tay tôi.
"Cô viết số gì ở tay vậy cô?"
Giọng ông lơ lớ, nhấn chữ cứng, kiểu người Khmer nói tiếng Việt. Tôi nói số tôi nằm mơ thấy, mua hoài không trúng. Ông cười, rồi không cười nữa. Ông cầm tay tôi lật lại, nghiêng ra chỗ có nắng, coi kỹ.
"Tám chín gạch bốn mốt. Cô viết vậy hả?"
Tôi nói phải, viết cho dễ nhớ.
Ông buông tay tôi ra, ngồi im một hồi. Rồi ông hỏi tôi quê ở đâu. Tôi nói quê ở Phụng Hiệp, nhưng ở Cần Thơ lâu rồi. Ông hỏi nhà có ai mất ngoài biển không. Tôi đứng sững. Ông thấy mặt tôi thì gật đầu, không hỏi nữa.
Ông tên Thạch Sơn, người ở xã Vĩnh Hải, Vĩnh Châu, Sóc Trăng. Ông lên Cần Thơ thăm đứa cháu nội nằm viện mổ ruột thừa, đem theo hai bao hành tím nhà trồng để bán lấy tiền xe. Ông ngồi đó kể cho tôi nghe, giọng chậm, từng câu cách nhau như người đang lựa chữ.
"Ngoài biển xóm tui có cái nghĩa địa. Không ai có tên hết. Năm tám chín có ghe vượt biên lật ngoài cửa Mỹ Thanh. Người chết trôi vô bãi cả tuần lễ. Ông già tui với mấy người trong xóm đi lượm, đem vô chôn trên giồng cát sau rừng phi lao."
Ông đưa ngón tay vẽ lên mặt băng đá, như vẽ một tấm bia.
"Mỗi mộ có cắm một miếng xi măng nhỏ cỡ viên gạch. Trên đó lấy cây vạch số, hồi xi măng còn ướt. Hai số đầu là năm. Hai số sau là thứ tự. Ai chôn trước số nhỏ, chôn sau số lớn. Mộ năm tám chín thì miếng nào cũng tám chín gạch."
Ông nhìn mu bàn tay tôi lần nữa.
"Viết y vậy đó cô. Tám chín gạch bốn mốt."
Tiếng tàu du lịch hụ một hồi dài. Khách ồn ào xuống bến. Tôi đứng giữa đám người mà tai tôi lùng bùng như bị nước vô.
Tám chín. Năm tám chín. Tôi đã viết hai số đó lên tay hai chục buổi sáng. Tôi đã đọc nó trong miệng mỗi lần lấy vé. Tôi chưa bao giờ nghĩ đó là năm thằng Lộc mất. Tôi nghĩ nó là số. Tôi bán vé số, tôi nghĩ cái gì cũng là số xổ.
Thằng nhỏ không đọc số cho tôi trúng. Nó đọc chỗ nó nằm.
Tôi hỏi ông Sơn nghĩa địa đó giờ còn không. Ông lắc đầu, rồi gật, rồi lắc.
"Còn mà sắp hết. Biển ăn vô. Mấy năm nay sóng lớn, rừng phi lao ngoài bãi ngã hết rồi. Mùa gió chướng năm ngoái biển lấy mất hai hàng mộ ngoài cùng. Năm nay chắc lấy thêm. Người ta nói mộ không ai nhận thì để vậy, biển lấy thì thôi. Vậy đó."
Ông móc trong túi áo ra một tờ lịch cũ, xin cây bút bi của tôi, viết tên ông, tên ấp, và tên một người khác: ông Quách Dỉ. Ông nói ông Dỉ người Hoa, hồi đó ở trong hội mai táng của chùa ông Bổn ngoài thị trấn, là người ghi sổ, mộ nào chôn ngày nào, xác ra sao, ông Dỉ ghi hết. Giờ ông Dỉ tám mươi mấy, còn sống, còn tỉnh.
Tôi cầm tờ lịch về nhà như cầm một tờ vé số trúng độc đắc.
Chiều đó tôi kể cho má. Tôi kể hết, ông Sơn, nghĩa địa, miếng xi măng, biển ăn vô. Tôi nói con muốn xuống Vĩnh Châu coi.
Má đang lặt rau muống, nghe tới chữ Vĩnh Châu thì bẻ gãy cọng rau trong tay làm hai. Má không ngước lên.
"Không phải nó đâu. Người chết năm đó cả trăm. Đứa nhỏ nào chẳng giống đứa nhỏ nào."
Tôi nói số đó đúng vậy mà má. Má bỏ rổ rau xuống.
"Nó không có ở đó đâu. Sóng cuốn nó ra ngoài khơi rồi. Má thấy mà."
"Má thấy hả má?"
Má nhìn tôi, lần đầu tiên trong buổi chiều đó. Mắt má đỏ, nhưng không khóc. Má không trả lời câu tôi hỏi. Má nói:
"Đừng đi. Má xin bây đó, Diễm."
Tôi không nói đi, cũng không nói không đi. Tối đó hai má con ăn cơm không ai nói tiếng nào. Má dọn chén, rửa chén, rồi đi nằm sớm, quay mặt vô vách.
Nửa đêm tôi thức dậy vì đau.
Cổ tay tôi bị bóp chặt tới mức các ngón tay tê rần. Tôi nhìn qua. Má không ngủ. Má nằm nghiêng nhìn tôi, mắt mở trừng trừng trong ánh đèn đỏ, bàn tay nắm cổ tay tôi, mấy khớp ngón tay trắng bệch. Tôi kêu má, má buông ra. Má không nói gì, chỉ rụt tay về, ôm lấy cánh tay mình mà run.
Ở đầu giường, vũng nước đã đọng lại từ hồi nào. Lần này nó không phải một vũng. Nó là một hàng, những dấu chân nhỏ ướt, từ cửa đi vô, dừng lại ngay chỗ má nằm.