Chương 2: Áo bông chấm đỏ
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Mười năm sau, tôi không còn nhớ rõ mặt em nữa.
Nhà không có ảnh. Hồi ấy chỉ có thợ ảnh trên huyện, mà nhà nghèo, chưa ai nghĩ đến chuyện chụp cho con nít. Mặt con Ngân trong đầu tôi cứ mờ dần, chỉ còn cái tóc dày, cái tay áo trùm quá ngón tay, cái lưỡi thè ra ở đầu ngõ.
Mùi lá bưởi thì không mờ. Mấy tháng đầu sau khi em mất, đêm nào tôi cũng ngửi thấy trên gối. Rồi thưa dần. Đến năm tôi mười tám thì hết hẳn. Tôi nghĩ là tôi đã quên.
Năm 1988 tôi lấy chồng. Chồng tôi tên Toàn, làm thợ mộc, nhà ở xóm Đông, cách nhà bu tôi một cái điếm canh đê và hai dãy ruộng. Năm sau tôi sinh con gái đầu lòng, đặt tên là Thu. Năm 1990 thầy tôi mất vì bệnh phổi, ho ra máu cả mùa đông.
Bà nội tôi vẫn sống với bu, ở ba gian nhà ngói cuối ngõ cũ. Bà già đi nhanh sau khi con Ngân mất. Bà không ra đồng nữa, chỉ ngồi ở hiên, quạt cái quạt nan, nhìn ra cây bưởi. Hôm nào tôi bế con Thu về, bà cũng bế lấy, áp mặt vào tóc nó, ngửi rất lâu.
Tháng Mười năm 1993, bà mất. Bà mất trong giấc ngủ, sáng ra bu tôi gọi mãi không dậy. Người làng bảo bà đi nhẹ, có phúc. Tám mươi mốt tuổi.
Lúc khâm liệm, bu tôi mở cái tủ con đầu giường bà để lấy quần áo, thấy trong đó có cái áo bông đỏ chấm bi. Cái áo năm xưa bà bắt con Ngân mặc. Áo đã bạc, chỗ khuỷu tay vá hai miếng, nhưng gấp vuông vức, đè lên một nắm lá bưởi khô.
Bu tôi cầm cái áo, ngồi thụp xuống đất. Tôi đứng sau lưng bu, không nói được câu gì. Tôi cứ tưởng áo ấy đã chôn theo em.
* * *
Đám bà xong được ba hôm thì tôi mơ.
Trong mơ là một buổi sáng mùa đông, sương xuống dày đến mức không nhìn thấy cánh đồng chiêm trước mặt. Tôi đứng giữa đường làng, chỗ con đường gạch rẽ vào xóm Đoài. Lạnh. Cái lạnh ẩm của sông Đáy tháng Mười một, ngấm qua áo, đọng thành nước trên tóc.
Ở đầu một cái ngõ, có đứa con gái đứng.
Nó mặc cái áo bông đỏ chấm bi. Tay áo trùm quá ngón tay. Tóc dày, đen, buộc túm sau gáy bằng một sợi chun. Nó cầm một cái nón mê, cầm ngang trước bụng bằng cả hai tay, như cầm cái mẹt.
Nó đứng quay lưng vào trong ngõ. Mặt nó nhìn ra phía cánh đồng, phía có bãi tha ma của làng.
Tôi biết đấy là con Ngân. Tôi biết ngay, dù tôi đã quên mặt em. Tôi muốn gọi mà miệng không mở ra được. Tôi muốn chạy lại mà chân như đóng xuống gạch.
Nó không quay sang nhìn tôi. Nó chỉ đứng đấy, đợi, kiên nhẫn như đứa trẻ đứng đợi người lớn ra cổng dắt đi chơi.
Tôi nhận ra cái ngõ ấy. Cổng tre hai cánh, cây hoa mõm chó trồng trong cái chum vỡ, rặng ruối xén bằng. Nhà cụ Tảo.
* * *
Tôi tỉnh dậy, trời còn tối. Toàn ngủ say bên cạnh, con Thu nằm giữa. Gối tôi thơm mùi lá bưởi đun.
Tôi ngồi dậy trong bóng tối, tim đập thình thịch. Mười năm rồi. Mùi ấy lại về, nồng hơn hồi trước, ấm như hơi nồi vừa mở vung. Tôi cúi xuống ngửi gối con Thu. Gối con bé chỉ có mùi sữa với mùi mồ hôi trẻ con.
Sáng ra tôi kể với Toàn. Anh đang bào cái cánh tủ ngoài sân, nghe xong thì cười.
"Bà vừa mất, mình nghĩ ngợi nhiều thì mơ. Có gì đâu."
"Thế cái mùi?"
"Thì mình nhớ cái mùi ấy, mình tưởng ra thôi."
Tôi không cãi. Tôi cũng muốn tin thế.
Cụ Tảo năm ấy chín mươi hai tuổi, là cụ ông cao tuổi nhất làng. Tết nào xã cũng đến tặng quà mừng thọ. Cụ còn đi được, sáng nào cũng chống gậy ra đầu ngõ ngồi xem người ta đi chợ. Hôm sau tôi đi chợ qua, cụ vẫn ngồi đấy, trên cái ghế đẩu thấp, đúng chỗ con Ngân đứng trong mơ. Cụ gật đầu với tôi.
Tôi chào cụ. Tôi đi qua rất nhanh. Tôi không dám nhìn vào chỗ đất dưới chân cái ghế.
Sáng thứ ba, xóm Đoài có tiếng khóc. Cụ Tảo mất. Cụ ngồi ở đầu ngõ như mọi hôm, gục xuống, người nhà ra dìu thì đã lạnh.
Người làng bảo cụ thọ, cụ đi nhẹ, đám này là đám mừng. Tôi đi đưa cùng bu. Lúc đoàn đưa tang ra khỏi ngõ, tôi đi sau cùng, qua cái cổng tre hai cánh, qua chậu hoa mõm chó.
Dưới chân rặng ruối, đúng chỗ đất tôi không dám nhìn, có một cái nón mê rách, lật ngửa.
Không ai trong đám biết cái nón ấy của nhà nào.