Chương 3: Giỏ rau lang
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Qua Tết, qua mùa cấy, tôi không mơ thêm lần nào. Cái nón mê ở đầu ngõ nhà cụ Tảo, tôi tự bảo mình là của đứa trẻ con nào bỏ quên. Đầu ngõ ấy người qua lại suốt.
Tháng Năm năm 1994, lúa chiêm chín vàng. Cả làng ra đồng gặt từ lúc gà gáy. Toàn đi làm mộc thuê bên Ninh Bình, nửa tháng mới về một lần. Tôi gặt với bu, con Thu gửi bà hàng xóm.
Tối hôm ấy tôi về muộn, tắm xong nằm vật ra giường, ngủ như chết.
Trong mơ là một buổi trưa. Nắng trắng chói, không một ngọn gió, mặt đường gạch hầm hập dưới bàn chân. Tôi đứng ở bờ mương, chỗ con đường làng chạy dọc theo xóm Đông. Tiếng máy tuốt lúa ở đâu xa xa, rầm rì, rồi tắt.
Con Ngân đứng ở đầu ngõ nhà anh Thịnh.
Nó vẫn mặc cái áo bông đỏ. Giữa trưa tháng Năm, nắng đổ lửa, nó mặc áo bông, cài kín đến cổ. Mồ hôi không chảy. Mặt nó không đỏ. Tay nó xách cái giỏ tre, cái giỏ cắt rau lang, quai giỏ buộc lại bằng một mảnh lạt. Trong giỏ là một nắm rau lang héo quắt, lá cuộn lại, đen như bị luộc.
Lần này nó không nhìn ra đồng. Nó ngửa mặt lên trời, nhìn chằm chằm vào một chỗ trên cao, như đứa trẻ nhìn con diều vướng trên ngọn tre.
Tôi nhìn theo. Trời trắng xoá, không có gì.
* * *
Tôi tỉnh dậy, cả gian buồng sực mùi lá bưởi đun. Mùi lan ra cả màn, nồng đến mức tôi ho. Tôi vén màn, ra hiên, múc gáo nước giếng vã lên mặt. Ngoài trời có sao, không một gợn mây.
Nhà anh Thịnh ở xóm Đông, cách nhà tôi bốn nóc. Anh làm thợ xây, ba mươi hai tuổi, khoẻ như vâm, có hai đứa con trai sinh đôi. Vợ anh là chị Lụa, bán hàng xén ở chợ.
Tôi ngồi ở hiên đến sáng. Tôi nghĩ đến cái nón mê ở đầu ngõ cụ Tảo. Nghĩ đến chuyện cụ ngồi đúng chỗ con Ngân đứng. Rồi nghĩ, cụ Tảo chín mươi hai, đằng nào chẳng đến lúc. Anh Thịnh mới ba mươi hai.
Sáng ra tôi gánh lúa qua ngõ nhà anh Thịnh, thấy chị Lụa đang quét sân. Tôi đặt gánh xuống, đứng ở cổng một lúc, không biết mở miệng thế nào.
"Chị Lụa ơi. Mấy hôm nay anh Thịnh làm ở đâu đấy?"
"Lợp lại cái mái nhà thờ họ Vũ bên xóm Chùa. Sao thế cô?"
"Không. Em hỏi thế. Chị bảo anh mấy hôm nay đừng trèo cao."
Chị Lụa chống cái chổi, nhìn tôi. Nhìn lâu. Rồi chị cười, cái cười không vui.
"Cô Hằng ạ, thợ xây mà không trèo cao thì nhà tôi lấy gì mà ăn. Cô có chuyện gì thì cô nói thẳng."
Tôi không nói thẳng được. Tôi chỉ nói em nằm mơ không hay. Chị Lụa phẩy tay, quay vào nhà. Tôi nghe chị càu nhàu với mẹ chồng ở trong bếp, giọng cố ý to lên.
"Giời ạ, bây giờ đến cái giấc mơ cũng mang ra mà dọa nhau."
* * *
Bốn hôm sau, giữa trưa, trời đang nắng chang chang thì từ phía sông Đáy kéo lên một vệt mây đen. Gió thốc qua đồng, lúa đang phơi trên sân bay tứ tung. Người ta chạy ra vơ lúa.
Rồi một tiếng sét. Chỉ một tiếng. Nó nổ ngay trên đầu làng, to đến mức tôi đang vơ lúa ngoài sân thì ngồi bệt xuống đất, hai tai ù đặc. Không có mưa. Mây tan nhanh như khi nó đến.
Anh Thịnh đang ngồi trên nóc nhà thờ họ Vũ, tay cầm viên ngói. Người ta bảo anh không kịp kêu.
Đám anh Thịnh làm ở xóm Đông. Tôi không dám sang. Chị Lụa ngất mấy lần. Tối đến, mẹ chồng chị, cụ Chuyên, chống gậy sang nhà tôi. Cụ không vào, đứng ngoài cổng, gọi vọng vào.
"Con Hằng đâu. Ra cụ bảo."
Tôi ra. Cụ nhìn tôi từ đầu đến chân, như nhìn một con vật lạ.
"Mày nằm mơ thấy gì. Kể cụ nghe."
Tôi kể. Kể cái áo bông, cái giỏ rau lang, cái mặt ngửa lên trời. Cụ nghe xong, gật gật, đôi môi móm nhai trầu chậm lại.
"Con Ngân nhà mày đấy à. Đứa chết năm Hợi ấy à."
"Vâng."
Cụ không nói gì nữa. Cụ quay đi, gậy gõ lộc cộc trên đường gạch. Đi được mấy bước, cụ dừng, nói mà không quay đầu lại.
"Lần sau mày thấy nó đứng ngõ nhà nào thì mày bảo nhà ấy. Người ta còn kịp sắm sửa."
Đêm ấy tôi bế con Thu vào giường, ôm nó thật chặt. Gối con bé lần đầu tiên có mùi lá bưởi.