Chương 4: Người biết trước
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Làng tôi nhỏ, chuyện gì cũng chỉ cần một buổi chợ là đi khắp. Cụ Chuyên kể với chị Lụa, chị Lụa kể với hàng chè chợ Gạo, hàng chè kể với cả xã. Đến cuối năm ấy, người ta không gọi tôi là Hằng nhà Toàn nữa. Người ta gọi tôi là cô Hằng biết trước.
Tôi chẳng biết trước cái gì. Tôi chỉ nằm mơ. Nhưng không ai muốn nghe thế.
Người làng đối với tôi có hai kiểu. Kiểu thứ nhất là tránh. Bà Gái bán đậu phụ đầu chợ, thấy tôi đến thì vội đưa đậu, không mặc cả, không nhìn mặt. Mấy nhà có cụ già, tôi đi qua thì họ đóng cổng. Có lần tôi đi qua ngõ nhà ông Chánh, thằng cháu nội ông đang chơi bi ở đầu ngõ, mẹ nó từ trong sân chạy ra lôi tuột vào, như sợ cái bóng tôi rơi lên người nó.
Kiểu thứ hai là tìm đến. Đêm hôm có người gõ cửa, mang theo gói chè, cân đường, có nhà mang cả con gà. Họ ngồi ở mép phản, vặn vẹo hai bàn tay.
"Cô Hằng ơi, ông cụ nhà tôi nằm liệt hai tháng rồi. Cô có thấy gì không. Cô bảo tôi để tôi còn liệu."
Tôi bảo tôi không thấy gì. Họ không tin. Có người còn dúi tiền vào tay tôi, nghĩ tôi giấu. Tôi trả lại, họ để quên trên chạn bát. Toàn đi làm về thấy, mặt sầm lại.
"Mình làm thế người ta nghĩ nhà mình làm nghề."
"Em có nhận đâu."
"Không nhận thì đừng cho người ta vào nhà."
Anh không tin chuyện mơ, nhưng anh cũng không còn cười như lần đầu. Anh ít nói hẳn. Có hôm tôi thấy anh đứng ở đầu ngõ nhà mình rất lâu, nhìn xuống chân, dưới gốc cây duối, như tìm cái gì.
* * *
Từ chuyện anh Thịnh, gần hai năm tôi không mơ thêm lần nào. Mùi lá bưởi cũng không về. Tôi mừng. Tôi bắt đầu nghĩ hai lần trước chỉ là trùng hợp. Người làng thì không nghĩ thế. Họ vẫn chờ.
Tháng Bảy năm 1996, mùa mưa ngâu. Nước sông Đáy lên to, đỏ quạch phù sa, liếm sát chân đê. Mưa phùn rả rích cả tuần, sân gạch lúc nào cũng nhớt rêu.
Đêm ấy tôi mơ.
Trong mơ trời nhập nhoạng, không biết sáng hay chiều. Mưa bụi bay ngang, nhưng tôi không thấy ướt. Tôi đứng ngay trước ngõ nhà ông Chánh. Cái cổng sắt sơn xanh, cây nhãn lồng cổ thụ trùm qua tường rào, chùm quả chín lúc lỉu, vỏ vàng sậm.
Con Ngân đứng đấy. Áo bông đỏ chấm bi, cái áo lúc nào cũng rộng quá khổ.
Nhưng lần này nó không quay lưng vào ngõ. Nó quay mặt vào trong. Nó nhìn vào sân nhà ông Chánh, nhìn qua cái cổng sắt, như đứa trẻ đứng nhìn sang nhà hàng xóm có cỗ.
Tay nó cầm một bó hương. Hương chưa thắp, chân hương đỏ, bó bằng một sợi lạt.
Rồi nó bước vào. Một bước thôi. Bàn chân trần của nó đặt lên bậc cổng nhà người ta, nhẹ như không. Tay nó còn lại vịn vào song cổng sắt.
Tôi nghe thấy tiếng song sắt kêu một tiếng ken két, rất khẽ.
Hai lần trước nó đứng ngoài, đợi. Lần này nó vào.
* * *
Tôi tỉnh, gối sũng mùi lá bưởi đun. Tôi không nằm lại được nữa. Trời vừa rạng, tôi khoác áo mưa, sang thẳng nhà ông Chánh.
Ông Chánh bảy mươi tư tuổi, nguyên là đội trưởng hợp tác xã, tính ông cứng như cột đình. Ông đang ngồi uống nước ở hiên. Tôi kể. Ông nghe, mặt không đổi.
"Thế cô bảo tôi làm gì bây giờ."
"Ông ở nhà mấy hôm. Đừng đi đâu. Đừng ra đê."
Ông đặt chén nước xuống, nhìn ra cây nhãn, im lâu lắm. Rồi ông gật.
"Được. Tôi ở nhà. Già rồi, chết thì chết ở nhà cho sạch sẽ."
Bốn hôm liền ông Chánh không ra khỏi cổng. Con dâu ông kể ông dặn cả nhà không được thắp hương, sợ gọi. Ông ăn cơm trong buồng, ngủ trong buồng, bắt thằng con trai cả ngủ ngoài hiên canh.
Sáng ngày thứ năm, trời tạnh mưa. Thằng Hiếu, cháu nội ông, mười tuổi, trèo lên cây nhãn đầu ngõ hái trộm mấy chùm nhãn ông để dành bán. Cành nhãn ngấm nước mưa cả tuần, gãy đánh rắc. Nó rơi xuống, đầu đập vào bậc cổng. Đúng cái bậc ấy.
Tôi nghe tin lúc đang vo gạo bên giếng. Tôi đứng đấy, hai tay trong rá gạo, không rút ra được.
Đến trưa, mẹ thằng Hiếu, chị Nhài, chạy sang nhà tôi. Chị không khóc. Chị đứng giữa sân, tóc rũ rượi, chỉ thẳng mặt tôi.
"Con mẹ này. Mày bảo ông ở nhà. Mày bảo ông ở nhà để nó bắt thằng con tao."
Toàn kéo chị ra cổng. Chị vùng ra, nhổ một bãi nước bọt xuống bậc cổng nhà tôi rồi mới đi.
Tối hôm ấy, có ai đó cắm một bó hương chưa thắp vào kẽ gạch ở đầu ngõ nhà tôi. Chân hương đỏ, bó bằng một sợi lạt.