☾ Truyện Ma Có Thật
← Em đứng đầu ngõ

Chương 5: Ông đồ xóm Chùa

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Sau chuyện thằng Hiếu, người làng tránh tôi ra mặt. Không ai gõ cửa đêm nữa. Đi chợ, người ta đứng giãn ra khi tôi đến. Bà Gái đậu phụ thôi bán cho tôi, bảo hết hàng, trong khi rổ đậu còn đầy.

Toàn bảo tôi về bên ngoại ở một thời gian cho yên. Tôi không về. Tôi biết đi đâu cũng thế.

Cái tôi không chịu được là cái điều chị Nhài nói. Mày bảo ông ở nhà để nó bắt thằng con tao. Nếu tôi không sang, ông Chánh có ra đê, có ngồi đâu đó ngoài đầu ngõ, có khi người đi là ông, không phải thằng bé. Tôi không biết. Không ai biết. Nhưng cái ý ấy cứ quay trong đầu tôi như con thoi.

Em tôi không đến để tôi cứu ai. Đến lúc ấy tôi mới hiểu được nửa câu ấy. Nửa còn lại thì tôi chưa hiểu.

* * *

Tháng Chạp năm ấy, tôi đi tìm ông đồ Khoát.

Ông Khoát giờ đã ngoài sáu mươi, hai mắt kéo màng trắng đục, không viết sớ được nữa. Ông ở với cô con gái út trong một cái nhà cấp bốn sau chùa làng, cạnh mấy cây đại. Tôi mang theo cân đường với gói chè Thái, gọi ở cổng mãi cô con gái mới ra.

Ông ngồi trên cái chõng tre ở hiên, cái chõng có khi là cái chõng năm xưa. Ông quấn chăn dạ, đầu đội mũ len. Tôi chào. Ông nghiêng đầu về phía tiếng tôi.

"Cô là ai."

"Cháu là Hằng, cháu nội bà Cả Lộc xóm Giữa. Năm Quý Hợi ông sang nhà cháu dâng sao."

Ông im. Hai con mắt trắng đục của ông không động đậy, nhưng tay ông thôi vê mép chăn.

"À. Con bé ốm yếu. Đứa còn lại ấy."

Tôi kể cho ông nghe. Kể từ cái đêm bà mất, kể cụ Tảo, anh Thịnh, thằng Hiếu. Kể cái áo bông đỏ chấm bi, cái nón mê, cái giỏ rau lang, bó hương. Ông nghe hết, không ngắt lời câu nào. Lúc tôi kể đến cái áo, môi ông mím chặt lại.

Tôi kể xong, ông vẫn im. Cô con gái mang ra hai chén nước, rồi lui vào trong.

"Năm ấy bà cháu bảo ông viết gì vào sớ, ông còn nhớ không ạ."

"Người già rồi, nhớ gì."

"Ông nhớ mà. Hôm ấy ông ngẩng lên nhìn bà cháu."

Ông thở ra một hơi dài. Ông cầm chén nước, cầm lâu mà không uống.

"Bà cụ nhà cô thương cô lắm. Cô ốm từ bé, cụ sợ không nuôi được. Cụ bảo tôi thế."

"Thế bà cháu bảo ông làm gì ạ."

"Sao chiếu người nào thì người ấy chịu, cô ạ. Ông giời xếp thế. Có người không muốn chịu, thì phải có người chịu hộ. Tôi chỉ nói được thế."

Tôi hỏi lại. Ông lắc đầu. Tôi hỏi thêm lần nữa, ông quay mặt đi chỗ khác, như người sáng mắt quay đi để khỏi phải nhìn.

* * *

Một lúc lâu sau, ông hỏi một câu khác hẳn.

"Hai cái sớ năm ấy, bà cụ đốt chưa."

"Dạ chưa. Bà cháu cất vào cái hộp gỗ trên bàn thờ. Bà bảo để bà giữ."

Ông gật gật, như đã biết từ trước.

"Sớ không đốt thì lễ chưa xong. Lễ chưa xong thì cái hạn vẫn còn đấy, nó chưa đi đâu cả. Bà cụ còn sống thì còn giữ được nó, còn đè được nó. Bà cụ đi rồi thì..."

Ông bỏ lửng. Tôi chờ. Gió từ ngoài đồng thổi vào, lá đại khô lạo xạo trên sân.

"Thì sao ạ."

"Thì nó phải đi làm cho xong cái việc người ta giao cho nó."

Tôi không hiểu. Tôi bảo ông nói rõ cho cháu. Ông không nói nữa. Ông đặt chén nước xuống chõng, đưa tay về phía tôi, quờ quạng trong không khí. Tôi nắm lấy tay ông. Bàn tay ông khô, lạnh, gân nổi như rễ cây.

Ông kéo tôi lại gần. Ông nghiêng đầu, đưa mũi sát vào mái tóc tôi, hít một hơi.

"Tóc cô thơm mùi lá bưởi."

Tôi lạnh cả sống lưng. Từ năm mười bốn tuổi tôi chưa gội đầu bằng lá bưởi lần nào. Sáng nay tôi gội bằng bồ kết.

Ông buông tay tôi ra, ngả lưng vào cột hiên, kéo chăn lên tận cằm.

"Cô về đi. Đừng hỏi tôi nữa. Hỏi bu cô ấy. Bu cô biết."

* * *

Tôi về theo đường đê. Chiều tháng Chạp xuống nhanh, sông Đáy bên tay trái đã xám ngắt, mặt nước bốc lên một lớp hơi mỏng. Bãi khoai lang mùa này trơ đất, chỉ còn những luống đất nứt nẻ chạy dài ra mép sông.

Đến đoạn gần cống đầu làng, tôi dừng lại. Dưới chân đê, chỗ bờ cỏ giáp luống khoai, có một cái giỏ tre nằm lăn.

Cái giỏ tre cắt rau lang, quai giỏ buộc bằng một mảnh lạt. Trong giỏ có một nắm rau héo quắt, đen.

Mùa này bãi sông không còn một ngọn rau lang nào.