Chương 7: Đêm ngồi đầu ngõ
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Đám bu làm ở ba gian nhà ngói cuối ngõ cũ. Người làng đến đông, đông hơn tôi tưởng. Nhưng lúc vái xong, họ đứng ở sân, đứng ở ngõ, nhìn tôi, thì thầm. Tôi nghe được loáng thoáng.
"Mơ thấy ngõ nhà mẹ đẻ mà vẫn không giữ được."
"Giữ thế nào được. Nó đã đứng ngõ nhà nào thì nhà ấy phải có người đi."
Tôi không khóc được. Tôi ngồi cạnh linh cữu, tay vẫn nắm cái chốt gỗ đen bóng gỡ ra từ tay bu.
Sau đám, tôi lục khắp nhà. Rương gỗ, gầm giường, gác bếp, chum gạo, cái hốc tường sau bàn thờ. Không có cái hộp sơn then nào. Trong rương bu có cái áo bông đỏ chấm bi, gấp vuông, đè lên nắm lá bưởi khô, y như ngày bà mất. Ngoài ra không có gì.
Tôi ngồi nghĩ mãi. Rồi tôi nhớ ra một chuyện. Mùa đông năm 1996, bu làm lễ cải táng cho bà. Bu thuê người đào, tự tay bu rửa xương, xếp vào tiểu sành. Hôm ấy bu không cho ai đứng gần. Bu bảo tôi về trông con Thu.
Cái hộp biến khỏi bàn thờ đúng mùa đông năm ấy.
* * *
Toàn bảo tôi về nhà mình mà ngủ. Tôi không về. Theo lệ phải có người thắp hương cho bu đủ trăm ngày, mà nhà bu không còn ai. Tôi đưa con Thu sang ở với tôi, mắc màn ở gian giữa, ngay dưới bàn thờ.
Ban ngày tôi ra đồng. Ban đêm tôi nằm nghe. Nhà cũ có những tiếng tôi đã quên. Tiếng cây bưởi cọ vào mái ngói. Tiếng chuột chạy trên gác bếp. Tiếng cái then cửa gỗ co lại khi trời trở lạnh.
Mười hôm sau đám bu, tôi quyết định. Nếu em còn đứng ở đầu ngõ nào, tôi phải nhìn thấy em bằng mắt mở, không phải trong mơ.
Tối ấy tôi chờ con Thu ngủ say, rồi khoác cái áo bông đỏ chấm bi của bu để lại. Áo chật, tôi không cài được cúc, chỉ khép vạt. Tôi mang cái ghế đẩu ra đặt ở đầu ngõ, chỗ hai hàng rào dâm bụt gặp đường làng. Tôi ngồi xuống, quay mặt ra đường.
Đường làng tối đen. Điện chỉ có trong nhà, ngoài đường không có cột đèn nào. Phía xa, con đê sông Đáy là một vệt đen dài hơn bóng tối. Gió từ sông thổi vào mang mùi phù sa với mùi rơm ướt.
Tôi ngồi đến lúc chân tê dại. Tôi nghe tiếng chó nhà ai sủa mấy tiếng rồi thôi. Rồi im.
Sương bắt đầu xuống. Nó bò từ ngoài đồng vào, phủ lên rặng dâm bụt, đọng thành giọt trên vạt áo bông. Tôi nhớ những tối mùa đông ngày bé, hai chị em nằm chung một cái chăn bông, con Ngân lạnh chân cứ thò sang áp vào bụng tôi, tôi đạp ra, nó lại thò sang. Bà nằm ở gian ngoài, nghe tiếng hai đứa cãi nhau thì gõ cái quạt nan vào thành phản, bảo ngủ đi.
Tôi kéo vạt áo khép chặt hơn. Cái áo của bu để lại vẫn còn mùi long não trong rương, lẫn với mùi khói bếp cũ. Bàn tay tôi lạnh đến mức không gập được ngón.
Rồi tôi ngửi thấy. Không phải trên gối. Ngoài trời.
Mùi lá bưởi đun. Ấm, hăng, ngai ngái, bốc lên từ dưới chân tôi, từ mặt đường gạch, như có ai vừa đổ một chậu nước gội đầu ra đấy. Mặt gạch dưới chân tôi hâm hấp ấm, giữa đêm tháng Ba.
Từ phía đê, có một bóng nhỏ đi lại.
* * *
Nó đi chậm, chân trần, không có tiếng. Áo bông đỏ chấm bi, cái áo giống hệt cái tôi đang khoác. Tay áo trùm quá ngón tay. Tóc buộc túm sau gáy.
Hai tay nó ôm trước ngực một cái hộp gỗ nhỏ bằng bàn tay, sơn then đen, đất bám đầy quanh cạnh.
Tôi không đứng dậy được. Tay tôi bấu chặt mép ghế. Tôi nhìn em đi lại gần, từng bước, như ngày xưa em đi chợ về, chẳng vội gì.
Em dừng lại trước mặt tôi, cách chừng hai bước chân. Gần thế mà tôi không nghe thấy em thở. Mặt em mười hai tuổi, trắng nhợt, đôi mắt một mí nhìn thẳng vào tôi.
Em cúi xuống, đặt cái hộp gỗ lên bậc gạch đầu ngõ, ngay cạnh chân ghế. Rồi em đứng thẳng lên, nghiêng đầu nhìn cái áo bông trên người tôi.
Lần đầu tiên, em nói.
"Đằng ấy đi hộ em."
Giọng em đúng là giọng mười hai tuổi, hơi khàn, nói trống không như hồi bé vẫn nói với tôi những lúc giận.
"Đi đâu."
Em không trả lời. Em đưa tay lên, kéo tay áo bông của mình xuống cho trùm hết bàn tay, rồi quay đi. Không về phía đê. Em đi dọc đường làng, về phía xóm Đông.
Phía nhà tôi.
Tôi đứng bật dậy. Cái ghế đổ đánh cạch. Tôi chạy theo mấy bước thì bóng áo đỏ đã tan vào bóng tối, như chưa từng có.
Tôi quay lại đầu ngõ. Cái hộp gỗ vẫn nằm trên bậc gạch. Nắp hộp không có chốt.
Từ trong nhà, con Thu khóc thét lên, gọi bu ơi.