Chương 1: Đòn gánh gỗ nghiến
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi tên Vi Văn Toản, người bản Nà Lầu, cách thị trấn Đồng Đăng hơn ba cây số về phía núi. Năm 2008 tôi bốn mươi lăm tuổi, làm cửu vạn đã gần hai mươi năm. Ở Đồng Đăng, cửu vạn là người gánh hàng thuê qua lại biên giới bằng lối mòn, không đi qua cửa khẩu. Chủ thuê hàng gì thì gánh hàng nấy, tiền tính theo chuyến, theo cân.
Tôi gánh bằng một cái đòn gỗ nghiến, dài hơn sải tay, hai đầu khoét rãnh giữ quai. Đòn ấy bố tôi đẽo cho năm tôi hai mươi tuổi. Nó đen bóng vì mồ hôi, đầu bên phải có một vết khía sâu. Bố dặn đầu có khía bao giờ cũng đặt bên vai thuận. Trước khi nhấc gánh, tôi nhổ nước bọt vào lòng bàn tay rồi xoa lên vết khía ấy, thói quen của bố từ hồi ông còn gánh muối lên bản.
Những năm chín mươi, hàng đi sang bên kia nhiều lắm: chuối, gạo, hoa hồi, có năm cả trâu. Giờ thì hàng về là chính, quần áo, giày vải, bánh kẹo, linh kiện điện thoại. Tôi không gánh chuối từ lâu. Ai hỏi thì tôi bảo chuối chín nhũn, chảy nhựa, hỏng áo. Thật ra tôi cũng không nhớ rõ vì sao mình bỏ.
Tháng Tám năm ấy, bà Tư, chủ quen của tôi ở chợ Đồng Đăng, bán sạp về xuôi. Tôi với lão Thình người cùng bản, hơn tôi mười tuổi, phải đi tìm mối mới. Một thằng tên Lèng, nói giọng phố, đến tận nhà thuê chúng tôi gánh đêm. Hàng là mấy bao linh kiện bọc ni lông, gánh từ lán bên kia về qua dốc Khau Pàn. Tiền gấp rưỡi bà Tư trả.
"Đi được không, anh Toản? Đường ấy anh thuộc như lòng bàn tay mà."
Tôi thuộc thật. Dốc Khau Pàn lên chừng nửa tiếng, qua một cái mốc đá ở lưng đồi, xuống một con suối cạn, rồi men rừng hồi ra đường nhựa. Vợ tôi là Mai không muốn tôi đi đêm. Mai bảo tiền ấy dễ quá, dễ thì có chuyện. Tôi bảo con Khiêm sắp lên lớp chín, cần cái xe đạp mới.
Chuyến đầu đi lúc chạng vạng. Lèng đứng ở lán bên kia cân từng bao, mỗi đầu đòn ba mươi cân, cân đi cân lại cho đều. Lão Thình gánh trước, tôi gánh sau. Đèn pin bọc vải cho ánh sáng chỉ đủ soi một vệt dưới chân.
Đường về không có gì lạ cho tới con suối. Đến bờ suối tôi hạ gánh nghỉ, lão Thình đi trước một quãng, tiếng chân lão lạo xạo trên sỏi rồi xa dần. Rừng hồi ban đêm thơm hắc, mùi như ai giã hoa hồi trong cối. Dế kêu rộ hai bên lối. Tôi ngồi xổm vốc nước rửa mặt.
Dế im.
Không im dần. Im một lượt, như ai đậy nắp nồi. Tôi nghe sau lưng có tiếng sỏi lạo xạo, ba bốn bước, rồi dừng.
Tôi soi đèn ngược lên lối. Cách tôi chừng mười bước có một người con gái đứng. Áo chàm dài quá gối, cài cúc bên nách, quần chàm, đầu chít khăn chàm vuông. Chị đứng hơi cúi đầu, hai tay buông thẳng. Ánh đèn bọc vải không soi tới mặt.
Tôi nghĩ là cửu vạn nữ. Ở Đồng Đăng đàn bà gánh hàng cũng nhiều, nhất là người Nùng, người Tày bên Cao Lộc. Tôi hỏi bằng tiếng Tày:
"Pây tầu đấy?"
Chị không đáp. Tôi hỏi lại bằng tiếng Kinh, chị cũng không đáp. Trên đồi, lão Thình gọi vọng xuống, giọng khàn:
"Toản! Ngồi đấy đẻ trứng à?"
Tôi nhấc gánh đi. Được một quãng tôi ngoái lại. Chị vẫn ở sau tôi, vẫn chừng ấy bước. Tôi dừng, chị dừng. Tôi đi, tiếng sỏi sau lưng lại lạo xạo theo. Không nhanh hơn, không chậm hơn, như người đi theo một người khác mà không muốn bị nhìn thấy.
Lúc ấy tôi mới để ý cái gánh. Hai bao Lèng cân bằng nhau, mà càng đi đầu bên phải càng nặng. Cái đòn nghiến cong xuống về phía ấy, quai bên phải căng như dây đàn. Tôi đổi vai. Đổi sang vai trái rồi, đầu nặng vẫn là đầu có vết khía. Tôi đổi lại. Vai phải tôi bắt đầu nhức, cái nhức lạnh chứ không nóng.
Ra tới đường nhựa, lão Thình đang ngồi hút thuốc lào ở gốc cây sấu. Tôi quay lại soi đèn vào mép rừng. Không có ai.
"Bác có thấy đứa con gái mặc áo chàm đi sau em không?"
Lão Thình rít một hơi dài, nhả khói, nhìn tôi.
"Đêm thế này đứa nào đi. Mày mỏi quá hoa mắt."
Lão nói xong thì đứng dậy luôn, không ngồi chờ khói tan như mọi khi. Lão đi trước, không ngoái lại lần nào.
Tôi về đến nhà gần sáng. Mai đã ngủ, con Khiêm ngủ, đèn bếp tắt. Tôi tháo gánh, dựng đòn ở góc hiên, rồi nằm luôn ra chõng tre ngoài hiên không buồn rửa chân. Vai phải tôi lạnh như vừa áp vào tảng đá suối.
Sáng ra tôi dậy vì tiếng Mai gọi ở sau nhà.
"Bố Khiêm ơi! Ra mà xem này. Ai đổ nước sôi vào gốc chuối thế này?"
Sau nhà tôi có một hàng chuối tây trồng dọc bờ rào, bảy cây, Mai trồng từ năm cưới. Cây đầu hàng, cây gần lối ra cổng nhất, lá rủ cả xuống. Những tàu lá hôm qua còn xanh giờ nâu sẫm, mềm oặt, như bị dội nước sôi. Thân cây vẫn mọng. Đất gốc khô ráo.
Tôi đứng nhìn rất lâu. Những tàu lá héo không rủ thẳng xuống như lá chết. Tàu nào cũng ngả về một phía, cùng một phía, như người đứng nghiêng đầu nhìn theo một ai vừa đi khỏi.
Phía ấy là lối ra đường nhựa, nơi đêm qua tôi gánh hàng về.