Chương 9: Đường chính ngạch
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Anh Hải nghe tôi kể hết một buổi sáng. Anh không ngắt lời, chỉ ghi. Lão Thình kể tiếp buổi chiều, kể đến đoạn thằng em Cậy đặt tay lên vai lão ở mốc thì lão khóc, anh Hải phải dừng cho lão uống nước. Hôm sau chị Pú đến. Chị kể ít hơn chúng tôi, nhưng chị nhớ tên hai đứa con gái kia, nhớ mặt thằng em Cậy, nhớ cả cái lán.
Anh Hải bảo việc bên kia mốc phải làm theo đường hai nước, không ai được tự sang. Tôi chờ. Chờ từ tháng Chín sang tháng Chạp. Cả mấy tháng ấy, tối nào tôi ra hiên cũng thấy bóng áo chàm đứng ở cổng. Không lại gần. Mai để một bát cơm với mấy quả chuối ở bậc cổng, sáng ra cơm nguyên, chuối nguyên.
Hồ sơ người mất tích năm chín chín ở huyện còn lưu một tờ đơn. Lương Thị Mây, mười bảy tuổi, bản Nà Khau, xã Công Sơn, huyện Cao Lộc. Đi chợ Kỳ Lừa bán măng, không về. Người làm đơn là anh trai, Lương Văn Tẩm. Đơn ghi khi đi mặc áo chàm, gấu áo thêu quả trám chỉ đỏ.
Giữa tháng Chạp, anh Hải báo phía bạn đã tìm thấy. Dưới gốc một cây sau sau bên kia suối, cách mốc đá chừng trăm bước. Xương một người con gái nằm co, giữa lớp lá chuối mục, còn mấy mảnh vải chàm. Một mảnh gấu áo thêu quả trám, rách một góc to bằng hai ngón tay.
Người ta đưa chị về qua cửa khẩu Hữu Nghị, một buổi sáng mưa phùn, theo đúng giấy tờ hai bên. Đường lớn, đường có cổng, có cờ, có người đứng chào. Tôi đứng ngoài hàng rào nhìn vào. Lần đầu tiên trong hai mươi năm, tôi thấy một người đi từ bên kia về bên này mà không phải lén lút qua một cái mốc giữa rừng.
Anh Tẩm đi xe khách lên đón, mặc áo chàm. Anh đứng bên cái hộp gỗ phủ vải đỏ, đặt tay lên nắp, không nói gì. Anh hơn tôi chừng mười tuổi, mặt đen sạm, tay to như tay thợ cày. Tôi định đến nói với anh mà chân không bước được.
Anh Tẩm tự đến. Anh nhìn tôi rất lâu.
"Anh là người gánh nó."
Tôi gật. Tôi chờ anh đánh. Anh không đánh.
"Mẹ tôi bảo, ai gánh nó đi thì người ấy gánh nó về. Mẹ tôi mời anh."
Đầu tháng Giêng, tôi và Mai về Nà Khau. Bản nằm trên sườn núi nhìn sang Mẫu Sơn, nhà sàn thưa, khói bếp bay lên trong sương. Bà Thoòng, mẹ chị Mây, ngoài sáu mươi, ngồi bên bếp, trên đùi đặt một cái áo chàm gấp vuông. Áo mới, chưa ai mặc, gấu thêu quả trám chỉ đỏ, giống hệt mẩu vải tôi đã cất mấy tháng trong hộc bàn thờ.
"Tôi thêu hai cái. Một cái nó mặc đi chợ. Cái này để dành cho nó đi lấy chồng."
Bà không trách tôi. Bà chỉ hỏi về mười năm của con. Tôi kể cái gốc sau sau, kể đất đỏ, kể hàng chuối nhà tôi héo cây nào cũng ngả về phía Mẫu Sơn. Bà nghe, gật, gật mãi, rồi quay mặt vào vách.
Mai đưa bà mẩu vải và sợi chỉ chàm. Bà đặt chúng lên áo, vuốt phẳng.
Hôm đưa chị Mây lên đồi, người bản đưa đến chân dốc thì dừng. Từ đó lên mộ là một lối mòn đất đỏ, dốc đứng. Anh Tẩm bảo đến đây thì để tôi gánh.
Tôi mang theo cái đòn gánh nghiến. Một đầu là cái tiểu sành bọc vải đỏ, đặt trong cái sọt mới anh Tẩm đan. Đầu kia là một sọt lễ: xôi, gà, cái áo chàm bà Thoòng thêu để dành, với mấy tàu lá chuối cắt từ cây cuối hàng nhà tôi. Tôi nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, xoa lên vết khía, ghé vai vào, đứng lên.
Cái đòn nằm thăng bằng trên vai tôi. Không lệch một ly. Hai đầu nhẹ như nhau. Lần đầu tiên trong mấy tháng, vai phải tôi không lạnh, không nóng, chỉ thấy gỗ nghiến nhẵn và ấm như mọi khi.
Tôi gánh chị lên dốc, từng bước, không đếm.
Chôn cất xong, mọi người xuống trước. Tôi ở lại sau cùng, ngồi bên mộ hút điếu thuốc lá. Khi xuống, đến khúc quanh chỗ lối mòn rẽ vào bản, tôi thấy chị.
Chị đi trước tôi. Lần đầu tiên chị đi trước. Mười bước, áo chàm, khăn chàm, chân trần, nhưng vạt áo sau lưng không còn vệt đất đỏ. Chị đi về phía nhà sàn có khói bếp, không ngoái lại. Đến chân cầu thang nhà bà Thoòng thì không còn ai nữa.
Mùa xuân năm ấy, sáu gốc chuối héo sau nhà tôi đều đâm chồi. Cây cuối hàng trổ buồng đầu tiên.
Tháng Năm, Dương Văn Cậy bị bắt ở kho, cùng thằng em. Người ta tìm được thêm ba người con gái bị bán qua lán ấy những năm chín mươi, hai người còn sống. Đầu năm sau Cậy lĩnh hai mươi năm tù. Lão Thình được miễn vì đã tự khai, lão bỏ rượu, về Lộc Bình ở với con gái, Tết nào cũng gửi lên cho tôi một gói thuốc lào. Chị Pú năm nào cũng đi Nà Khau làm giỗ chị Mây, ngồi cạnh bà Thoòng thêu quả trám.
Tôi bỏ nghề cửu vạn. Tôi trồng hồi trên đồi sau bản, không gánh hàng cho ai nữa.
Cái đòn gánh nghiến tôi treo ngang trên xà cửa. Ở vết khía đầu bên phải, sợi chỉ chàm vẫn quấn hai vòng, tôi không tháo. Những hôm gió từ phía Mẫu Sơn thổi về, cái đòn đung đưa, đầu bên phải trĩu xuống một chút, rồi từ từ nằm lại thăng bằng, như có ai vừa ghé qua đặt tay lên rồi đi.