Chương 8: Sọt chuối năm chín chín
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Mai đun nước, pha chè đặc, đổ cho lão Thình ba bát liền. Lão uống, nôn ra hiên một bãi, rồi ngồi thừ trên chõng. Đến chiều lão mới nói được. Lão nói không nhìn ai, mắt dán xuống cái sọt dính đất đỏ tôi để dưới chân cột.
"Tháng Mười năm chín chín. Mày nhớ không. Cái đêm Cậy bảo chuyến cuối mùa, trả gấp ba."
Tôi nhớ. Nghe lão nói đến đâu, cái đêm ấy hiện lên đến đó, như một cái sọt bị giật ngược ra khỏi gác chuồng, rơm mục rơi lả tả.
Đêm ấy Cậy chỉ thuê hai người, tôi với lão Thình. Lạ, vì chuyến chuối nào cũng vài chục người.
Cậy bảo hàng ít, hàng đẹp, phải đi nhanh. Trước khi đi Cậy rót cho mỗi người một bát rượu ngô, bảo rượu mừng chuyến cuối. Tôi uống. Lão Thình đổ đi khi Cậy quay lưng. Lão bảo rượu của Cậy chưa bao giờ tử tế.
Hai đôi sọt xếp sẵn ở bãi sau kho. Sọt nào cũng đầy chuối tây, phủ lá chuối kín miệng, buộc lạt. Thằng em Cậy chỉ cho tôi đôi sọt có đánh dấu vôi trắng ở quai.
"Đôi này mày gánh. Đầu nặng để bên vai thuận nhé."
Tôi xốc gánh lên vai. Đầu bên phải nặng hơn hẳn, phải đến năm, sáu chục cân. Tôi càu nhàu chuối gì mà nặng một bên. Thằng em Cậy cười, bảo chuối chín cây, nặng nước.
"Mày đi được nửa dốc thì loạng choạng," lão Thình nói. "Rượu ngấm. Đến suối mày hạ gánh, ngồi nghỉ."
"Mày áp lưng vào cái sọt bên phải. Mày bảo tao: chuối gì mà ấm thế. Tao cũng nghe. Tao nghe trong sọt có tiếng thở ra. Một tiếng thôi."
Tôi ngồi trên chõng, hai tay đặt lên đầu gối. Tôi nhớ cái lưng mình áp vào vành sọt. Ấm. Ấm như lưng một con trâu nằm. Tôi nhớ mình còn vỗ vỗ lên lớp lá chuối, cười, bảo chuối nhà Cậy được ủ kỹ.
"Tao biết," lão Thình nói. Lão gần như hét. "Tao biết là người. Tao biết ngay ở suối."
"Tao không nói. Tao sợ. Năm ấy ai nói gì về hàng của Cậy thì người ấy không gánh được nữa, có đứa còn không về được."
Lão kể tiếp. Qua mốc, xuống lán bên kia, tôi hạ gánh xong là lăn ra ngủ ở hiên lán, ngủ như chết. Lão Thình ngồi bên ngoài, không dám ngủ. Lão nhìn qua khe vách thấy người ta gạt lá chuối, gạt mấy nải chuối dập ra, rồi khiêng một cái gì từ sọt bên phải vào trong.
"Tao thấy cái ống quần chàm. Tao thấy cái chân không có dép, bùn đỏ đến mắt cá."
Sáng ra Cậy trả tiền gấp ba cho cả hai, bảo lão Thình đánh thức tôi dậy mà về. Thằng em Cậy đi theo hai người đến tận mốc. Ở mốc nó dừng lại, đặt tay lên vai lão Thình, bảo một câu mà mười năm nay lão không quên.
"Thằng Toản say, nó không biết gì. Bác thì biết. Bác giữ mồm thì bác còn gánh."
Về đến nhà tôi sốt hai ngày. Lão Thình thì từ đấy uống rượu. Mười năm, lão đi gánh vẫn đi qua mốc ấy, qua suối ấy, mà lần nào lão cũng không dám nhìn sang bên kia suối.
"Mấy hôm trước," lão nói, giọng lạc đi, "đêm mày bảo có đứa con gái đi sau mày. Tao đi ngay sau nó. Tao không thấy. Nhưng tao ngửi thấy. Mùi chàm. Tao biết nó về rồi."
"Nó không tìm tao. Tao chỉ nhìn. Mày mới là người cõng nó."
Tôi ngồi im. Trong đầu tôi không còn chỗ nào trống để nghĩ. Tôi chỉ thấy cái vết khía trên đầu đòn bên phải, cái vết mà bố tôi đẽo để tôi biết đầu nào đặt lên vai thuận. Đêm ấy, đầu ấy treo một đứa con gái mười bảy tuổi.
Tôi là người cuối cùng mang chị. Tôi mang chị qua mốc, qua suối, giao chị vào tay người ta, rồi tôi nằm ngủ ngay bên ngoài vách lán, cách chị một lớp nứa. Sáng ra tôi cầm tiền gấp ba, đi về. Chị ở lại. Mười năm chị nằm dưới gốc sau sau, quay mặt về phía mốc, chờ cái đòn gánh của người đã mang mình đi quay lại mang mình về.
Chị không theo lão Thình. Chị không theo Cậy. Chị theo vai tôi.
Mai ngồi ở bậc cửa bếp, lấy vạt áo lau mắt. Mai không trách tôi câu nào. Mai chỉ hỏi:
"Bây giờ anh làm thế nào?"
Tôi đứng dậy. Vai phải tôi không lạnh nữa. Nó nóng, nóng rát, như vừa đặt một cái đòn gánh nặng nhất đời lên.
"Anh đi đồn biên phòng. Gặp anh Hải. Kể hết. Bác Thình đi cùng anh."
Lão Thình ngẩng lên. Lão nhìn tôi rất lâu. Tôi tưởng lão sẽ chối. Lão đã sợ mười năm, sợ Cậy, sợ thằng em Cậy, sợ cả cái mốc đá. Nhưng lão chỉ đặt bát chè xuống, chống tay đứng dậy, đi ra cái vại nước ngoài hiên, vục nước rửa mặt.
"Đi thì đi. Tao già rồi. Tao không muốn chết mà nó còn đứng ở suối."
Tối ấy, trước khi đi ngủ, tôi ra hiên. Cái đòn gánh nghiến dựng ở góc như mọi khi. Tôi cầm lên ngắm. Ở vết khía đầu bên phải lại có một sợi chỉ chàm quấn hai vòng. Lần này tôi không tháo ra.
Ngoài bờ rào, cây chuối cuối hàng xào xạc, tàu lá non đã mở được một nửa.
Còn ngoài đường bản, ngay cổng, có một bóng áo chàm đứng. Không đi theo. Không lại gần. Đứng đợi, như người đứng đợi một người hẹn sẽ đến đón.