Chương 1: Vết liềm mùa gặt
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi tên Tâm, quê Giao Thủy, Nam Định. Học xong trung cấp y ở Nam Định, tôi xin đi tuyến xã miền núi vì được cộng điểm và có phụ cấp. Năm 2011 tôi lên một xã nằm lưng chừng đèo Khau Phạ, phía Mù Cang Chải. Đến mùa lúa chín năm 2015, tôi đã ở đó bốn năm, nói được dăm câu tiếng Mông.
Trạm y tế xã là một dãy nhà cấp bốn ba gian, tường xây, mái tôn, nằm trên một bãi đất san phẳng sát quốc lộ. Gian giữa là phòng khám, có cái bàn gỗ, cái giường sắt trải ni lông, tủ thuốc cửa kính. Gian bên trái là phòng đẻ. Gian bên phải tôi ở, kê một cái giường tre và một cái bàn con. Đằng sau có bể nước, bếp củi, cái máy nổ để dành lúc mất điện.
Trạm có ba người. Anh Sình, trạm trưởng, người Mông, đi họp huyện nhiều hơn ở trạm. Chị Xiêm, nữ hộ sinh người Thái dưới Tú Lệ lên, hơn tôi mười tuổi, đỡ đẻ khéo và nói chuyện thẳng như chặt củi. Còn tôi, lo khám, tiêm, băng bó, ghi sổ.
Tôi là người kỹ tính. Chữ tôi xấu, đứng thẳng, to như chữ học trò lớp ba, nhưng sổ sách tôi ghi không sót dòng nào. Đôi giày vải ba ta trắng duy nhất của tôi, chủ nhật nào tôi cũng cọ bằng bàn chải, phơi lên bờ rào. Chị Xiêm hay trêu, bảo cả xã chỉ có giày y sĩ là còn trắng.
Mùa gặt ở đó đẹp đến mức người dưới xuôi lên chụp ảnh nườm nượp. Ruộng bậc thang vàng từ chân đèo lên tận lưng trời, từng tầng một uốn theo sườn núi như vân tay. Nhưng với trạm y tế, mùa gặt là mùa liềm. Ngày nào cũng có người bị liềm cắt vào tay, vào ống chân.
Chiều hôm ấy cuối tháng Chín. Nắng xiên qua đèo, mây bắt đầu tràn xuống thung. Một người đàn bà Mông địu một đứa bé trai chạy vào trạm, váy xoè vải lanh dính đầy rơm. Tôi nhận ra chị. Chị là Mùa Thị Mỷ, nhà ở bản Chí Lừ, đã đẻ đứa thứ ba ở phòng đẻ của trạm năm ngoái.
Đứa bé là thằng Sử, con lớn nhà chị, mười tuổi, học lớp bốn ở điểm trường bản. Ngón trỏ tay trái nó bị liềm phạm một đường sâu, máu thấm ướt cái khăn chàm chị quấn tạm. Nó không khóc.
Tôi đặt nó ngồi lên giường sắt, rửa vết thương bằng nước muối, gây tê, rồi xâu chỉ. Chị Mỷ đứng cạnh, hai tay chắp trước bụng. Tôi hỏi Sử vài câu bằng tiếng Kinh cho nó đỡ sợ. Đau không. Cắt lúa à. Nó chỉ lắc đầu, gật đầu. Chị Mỷ nói thay:
"Nó không biết tiếng Kinh đâu. Ở trường cô nói, nó nghe, nó không nói."
Tôi khâu mũi thứ nhất, mũi thứ hai. Thằng bé ngồi im. Tôi để ý nó không nhìn tay mình, cũng không nhìn tôi. Nó nhìn lên một chỗ phía trên vai trái tôi, hơi lùi về sau, như có ai đứng đó. Tôi nghĩ trẻ con người Mông vốn ngại nhìn thẳng vào mắt người lạ, nên không để tâm.
Đến mũi thứ ba, nó nói.
"Khâu thưa thế, về gánh lúa nó bục ra đấy."
Tôi dừng tay. Câu ấy rõ ràng, trọn vẹn, không vấp chữ nào. Mà cái giọng mới lạ. Không phải giọng lơ lớ của người Mông nói tiếng Kinh. Đó là giọng quê tôi. Chữ "thế" kéo ra, chữ "đấy" hạ xuống, cái nhịp ấy tôi nghe từ bé ở nhà bà nội.
Chị Mỷ đứng sững. Tôi ngẩng lên nhìn thằng bé. Mắt nó vẫn dán vào khoảng không trên vai tôi. Rồi môi nó lại mấp máy, chậm hơn, như đứa trẻ chép chính tả, nghe một chữ viết một chữ:
"Cua Tay Áo đất ngấm rồi. Bảo anh em dọn lán đi. Ứ ai nghe."
"Ứ" là tiếng bà nội tôi. Bà tôi bảo "ứ" thay cho "không", gọi mẹ là "bu", gọi bố là "thầy". Đã lâu lắm, từ ngày bà mất, tôi không nghe ai nói chữ ấy.
"Cháu vừa nói gì?"
Tôi hỏi. Tay cầm kim của tôi lạnh đi. Thằng Sử giật mình như người vừa bị đánh thức. Nó nhìn xuống tôi, mặt tái lại, rồi lắp bắp bằng thứ tiếng Kinh vụng về của nó:
"Cháu không nói. Chú nói."
Rồi nó quay sang mẹ, nói một tràng tiếng Mông, nhanh và run. Chị Mỷ kéo con vào lòng. Tôi hỏi chị nó nói gì. Chị lắc đầu, không dịch. Chị chỉ bảo tôi khâu nốt cho nhanh.
Tôi khâu nốt bốn mũi, mũi nào cũng dày. Băng xong, chị Mỷ địu con chạy ra cửa, không lấy thuốc kháng sinh. Tôi phải đuổi theo ra tận quốc lộ dúi vỉ thuốc vào tay chị. Lúc ấy thằng Sử nằm trên lưng mẹ ngoái lại. Nó không nhìn tôi. Nó vẫn nhìn vào cái chỗ trên vai tôi.
Tối đó tôi kể với chị Xiêm. Chị đang ngồi nhặt rau cải bên bếp củi, nghe xong thì cười, bảo trẻ con giờ xem ti vi nhiều, bắt chước giọng người ta trên ti vi. Tôi bảo ti vi không ai nói "ứ". Chị nhún vai.
"Cua Tay Áo là chỗ nào hả chị?"
Chị Xiêm ngừng tay, nghĩ một lúc. Chị ở xã này gần hai mươi năm, thuộc từng khúc đèo. Chị bảo không có cua nào tên thế cả. Các khúc cua trên Khau Phạ người ta gọi theo tên bản, theo cột cây số, theo cái quán bán ngô nướng. Không ai gọi là cua Tay Áo.
Đêm đó trời quang, không một giọt mưa. Tôi ngủ sớm. Tôi nhớ rõ trước khi lên giường, tôi để đôi giày ba ta trắng dưới gầm, mũi giày quay ra ngoài như mọi đêm. Đôi giày ấy tôi vừa cọ sạch hôm chủ nhật.
Sáng ra, tôi cúi xuống lấy giày.
Hai chiếc giày nằm đúng chỗ, mũi quay ra ngoài. Nhưng đế giày đóng một lớp đất đỏ dày, còn ướt, đỏ sậm như gạch non. Trong đất lẫn những mảnh đá vụn màu xám xanh, sắc cạnh như vảy. Dây giày buộc hai nút chặt, kiểu buộc tôi chưa từng buộc bao giờ.
Cả xã đã một tuần nay không mưa. Sân trạm khô trắng. Quanh trạm toàn đất vàng.