☾ Truyện Ma Có Thật
← Hai nét chữ trong sổ khám

Chương 2: Cuốn sổ khám cũ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi đứng nhìn đôi giày một lúc lâu. Rồi tôi kiểm tra cửa. Cửa gian tôi ở có then cài bên trong, sáng ra then vẫn cài. Cửa sổ có song sắt. Không ai vào được mà không phá.

Tôi nghĩ ra đủ lý do. Có thể con chó nhà ai chui gầm giường tha giày ra ngoài rồi tha về. Có thể đất ấy dính từ chiều hôm trước, lúc tôi chạy ra quốc lộ đuổi theo chị Mỷ, mà tôi không để ý. Nhưng quốc lộ đoạn ấy trải nhựa, và chó không biết buộc dây giày.

Tôi mang giày ra bể nước, cọ sạch. Đất đỏ tan ra, nhuộm hồng cả chậu nước. Mấy mảnh đá xám xanh lắng dưới đáy chậu, tôi nhặt lên xem. Đá phiến, mỏng, gãy theo thớ. Quanh trạm không có loại đá ấy.

Chiều hôm đó tôi lục cái tủ gỗ ở góc phòng khám, chỗ anh Sình cất giấy tờ cũ. Tôi tìm được một cuốn sổ khám bệnh còn trắng tinh, loại sổ in sẵn năm 2009, bìa các tông xanh đã bạc, gáy dán vải. Mỗi trang kẻ cột in sẵn: ngày, họ tên, tuổi, dân tộc, triệu chứng, chẩn đoán, xử trí. Trạm đã đổi mẫu sổ mới nên cuốn này bỏ xó.

Tôi định dùng nó làm sổ theo dõi riêng cho thằng Sử. Hồi đi học, thầy dạy môn tâm thần có kể về những ca trẻ con bỗng nói giọng người khác, gọi là rối loạn phân ly. Tôi nghĩ nếu ghi chép đủ kỹ, biết đâu sau này gửi lên huyện, lên tỉnh, người ta xem được. Tôi viết lên bìa bằng bút bi xanh: Theo dõi Thào A Sử, mười tuổi, bản Chí Lừ.

Trang đầu tôi ghi lại buổi chiều khâu tay. Ghi đúng từng chữ thằng bé nói, ghi cả hướng mắt nó nhìn. Chữ tôi đứng, to, lấn ra ngoài cột in sẵn.

Hai hôm sau tôi lên bản Chí Lừ thay băng, lấy cớ sợ vết khâu nhiễm trùng. Bản nằm trên một quả đồi phía trên ruộng bậc thang, đi bộ nửa tiếng theo đường mòn. Nhà chị Mỷ là nhà trình tường, mái pơ mu, cửa thấp, bên trong tối và ấm, khói bếp hun đen cả xà. Ngô treo thành chùm trên gác bếp.

Ông nội thằng Sử ngồi bên bếp lửa. Ông tên Thào A Lử, ngoài sáu mươi, gầy, đội cái mũ len cũ. Ông nói được tiếng Kinh khá hơn con dâu, vì hồi trẻ đã đi gánh đá thuê cho các đội làm đường dưới xuôi lên. Ông rót cho tôi bát rượu ngô, mời bằng hai tay.

Chị Mỷ bảo từ hôm ở trạm về, thằng Sử bình thường. Nó đi học, đi chăn trâu, nói tiếng Mông, không nói câu tiếng Kinh nào. Nó chỉ không chịu đi qua đường quốc lộ chỗ trạm y tế.

"Nó sợ chú à?"

Chị Mỷ nhìn bố chồng, không trả lời.

Tôi ngồi xuống cái ghế gỗ thấp cạnh bếp, gọi thằng Sử lại. Nó đi rất chậm, chìa ngón tay quấn băng ra. Tôi tháo băng. Vết khâu khô, liền tốt. Tôi đang bôi cồn thì nó lại ngước lên. Lại cái nhìn ấy, vượt qua đầu tôi, dừng ở một chỗ sau lưng tôi, cao hơn vai một chút.

Rồi nó nói. Vẫn cái giọng ấy, chậm, từng chữ một, như nghe ai đọc rồi nhắc lại.

"Năm chín tám, mưa từ rằm tháng Bảy. Đội ba đóng lán dưới cua Tay Áo, cây số mười hai. Thằng Tiến bảo làm xong đoạn này rồi hẵng chuyển. Bu tao gửi lên hai cân lạc rang, chưa ăn hết."

Ông Lử đánh rơi bát rượu. Rượu đổ xuống tro bếp, xèo lên một tiếng, bốc mùi men chua. Chị Mỷ lùi lại sát vách. Không ai nói gì. Chỉ có tiếng lửa nổ lép bép và tiếng con lợn dụi mõm vào vách nứa ngoài sân.

Thằng Sử chớp mắt, cúi xuống nhìn tay mình như không biết vì sao tay mình lại đang chìa ra. Nó rụt tay về, chạy tót lên gác.

Tôi quay sang ông Lử. Ông ngồi cứng như tượng, hai bàn tay úp lên đầu gối. Một lúc lâu sau, ông mới nói, giọng khàn:

"Cái lán đấy, đất đổ xuống. Ba người Kinh ở trong. Năm ấy tôi gánh đá cho họ."

Tôi hỏi ông cua Tay Áo là chỗ nào. Ông lắc đầu, bảo người Mông không gọi tên ấy, người Kinh trong đội gọi với nhau thôi. Tôi hỏi tiếp về ba người kia. Ông không nói nữa. Ông đứng dậy đi ra sau nhà, một lúc sau mang về nắm lá gì đó, thả vào bếp. Khói lá bốc lên hăng hắc. Chị Mỷ nói nhỏ với tôi, ông đuổi cái không sạch.

Lúc tôi về, ông Lử tiễn tôi ra tận đầu dốc. Ông nói một câu mà mãi về sau tôi mới hiểu:

"Thằng Sử có mắt từ bé. Nó trông thấy cái người khác không trông thấy. Nó không có bị cái gì vào người đâu, y sĩ ạ."

Tôi tưởng ông bênh cháu. Người Mông kiêng nói con cháu mình bị ma vào, vì sợ cả bản xa lánh. Tôi gật đầu cho ông yên lòng.

Tối đó, ở trạm, tôi ghi tất cả vào cuốn sổ khám cũ. Ghi giờ, ghi chỗ ngồi, ghi câu nói, ghi cả bát rượu đổ. Tôi gạch chân mấy chữ lạ: cua Tay Áo, cây số mười hai, đội ba, Tiến, bu, lạc rang. Ghi xong tôi gấp sổ, cất vào ngăn kéo bàn phòng khám, khoá ngăn kéo, bỏ chìa vào túi áo blu treo đầu giường.

Đêm ấy tôi ngủ say, không mộng mị gì.

Sáng ra, ngăn kéo vẫn khoá. Tôi mở ra, lấy sổ, lật đến trang ghi tối qua để đọc lại.

Ngay dưới dòng cuối của tôi, có thêm năm dòng chữ. Mực xanh, cùng màu mực bút bi tôi vẫn dùng. Nhưng không phải chữ tôi. Chữ nhỏ, đều, nghiêng hẳn về bên phải, có nét thanh nét đậm như chữ người học viết bằng bút chấm mực ngày xưa. Năm dòng chạy ngang qua các cột in sẵn, không đếm xỉa gì đến cột.

"Ứ phải dưới lán. Tao lên rãnh xem nước, đất nó trôi tao sang ngang. Chúng mày đào chỗ lán làm gì. Bảo thằng Tiến."

Bên dưới, ký một chữ, nét móc cuối cùng kéo dài: Hùng.