Chương 11: Trang sổ cuối
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Anh Tiến lên sau đó ba ngày, đi chuyến xe khách đêm từ Nam Định, chuyển hai lần xe. Đi cùng anh là chú Hoà, em trai út anh Hùng, và một cô bé mười sáu tuổi, tóc buộc đuôi gà, mặc áo đồng phục trường cấp ba. Cô tên Thương.
Anh Tiến già hơn giọng nói của anh. Tóc bạc trắng, chân đi tập tễnh, tay chống một cây gậy tre. Bước xuống xe ở cổng trạm, anh nhìn tôi rất lâu, rồi nhìn xuống đôi giày tôi đang đi. Anh cúi xuống, sờ vào cái nút dây giày tôi buộc lúc nào không biết.
"Thằng Hùng buộc kiểu này. Buộc hai nút, để trèo taluy không bị tuột. Cả đội học nó."
Trong mấy ngày chờ, đêm nào chị Xiêm cũng ngồi canh tôi. Tôi không đi đâu nữa. Như người ta đã tìm được đường về thì không cần đi hỏi đường. Cuốn sổ khám mở trên bàn, không thêm chữ nào.
Anh Sình xin được giấy của xã. Sáng hôm sau, cả đoàn lên đèo. Có anh Sình, chị Xiêm, mấy anh dân quân xã mang cuốc xẻng, ông Lử và ba người đàn ông Mông trong bản Chí Lừ từng đào đất năm chín tám. Chú Hoà cõng anh Tiến trên lưng leo con dốc trâu bò. Thương đi sau cùng, ôm một cái túi vải, trong túi có tấm ảnh thờ bố cô và một tấm vải đỏ.
Tôi cầm cuốn sổ khám. Tôi đọc lại từng câu chữ nghiêng, như đọc một bản đồ. Từ cọc mười hai lên bốn mươi bước. Gốc sau sau cụt ngọn. Dưới rãnh thoát nước. Đất trôi sang ngang. Hai gang nữa thôi.
Anh em dân quân đào thêm hai gang ở đáy cái hố tôi đã đào. Lưỡi cuốc chạm vào một thứ gì đó không phải đá. Mọi người bỏ cuốc, quỳ xuống, bới bằng tay.
Anh Hùng nằm nghiêng, co người lại, hai tay ôm trước ngực như người ta nằm co cho đỡ rét. Xương đã chuyển màu nâu như rễ cây. Rễ sau sau đâm xuyên qua chỗ ngực. Cái mũ cối bẹp vành úp lên chỗ đầu. Bên cạnh tay là một cái túi ni lông gấp nhiều lớp, bên trong là một xấp giấy bọc đường.
Chú Hoà quỳ bên miệng hố, gào lên một tiếng như trâu rống, rồi gục xuống. Anh Tiến ngồi trên ụ đất, hai tay bám vào cây gậy, khóc không ra tiếng.
Thương bước xuống hố. Cô trải tấm vải đỏ lên đất. Cô cúi sát xuống, gọi khẽ, giọng Hải Hậu trong veo của một đứa trẻ mười sáu tuổi:
"Bố ơi. Con là Thương đây. Con lên đón bố về với bà."
Ông Lử đứng phía trên, gật đầu với tôi. Ông Vàng nói đúng. Phải người nhà gọi.
Xấp giấy trong túi ni lông là thư. Bốn lá thư anh Hùng viết mà chưa kịp gửi, mực đã nhoè gần hết, chỉ còn đọc được vài dòng. Nét chữ nghiêng, đều, chữ "g" kéo đuôi dài. Một lá viết cho bu, dặn đừng gửi lạc lên nữa. Một lá viết cho vợ, có câu: "Nếu là con gái thì đặt tên là Thương, bu bảo buồn nhưng anh thích." Anh Tiến nhận ra lá thư ấy viết đêm cuối cùng. Anh bảo đêm ấy trước khi cầm đèn bão trèo lên rãnh, thằng Hùng còn ngồi viết, nhắm mắt.
Chúng tôi đưa anh Hùng xuống đèo trong buổi chiều, bọc trong vải đỏ, đặt trong một cái tiểu sành chú Hoà mua ở thị trấn. Người trong bản Chí Lừ ra đứng dọc đường nhìn. Chị Mỷ bế thằng Sử đứng ở đầu dốc, tay nó còn bó bột. Thằng bé nhìn tôi. Lần đầu tiên từ hôm khâu tay, nó nhìn thẳng vào mặt tôi, rồi nhìn ra sau vai tôi, rồi lại nhìn mặt tôi. Nó cười.
Tôi xin anh Sình nghỉ phép, theo về Hải Hậu. Lần đầu tiên sau bốn năm tôi về xuôi. Đám táng làm ở xóm Bốn, trên một cánh đồng cói sát đê biển, gió mặn thổi rạp cả lá cờ phướn. Bu anh Hùng tám mươi hai tuổi, mắt đã mờ, ngồi cạnh cái tiểu sành suốt buổi. Lúc tôi đến thắp hương, bà nắm lấy tay tôi, sờ vào những chỗ da non ở lòng bàn tay, sờ lâu như người đọc chữ nổi.
"Tay con ráp thế này à." Bà nói. "Thằng Hùng nó bắt con đào cho nó phải không."
Bà dúi vào tay tôi một gói lạc rang, gói trong tờ giấy bọc đường.
Từ hôm ấy, tôi không còn tỉnh dậy với hai bàn chân lấm đất. Giày tôi dưới gầm giường sáng nào cũng trắng, dây buộc một nút, kiểu của tôi. Chị Xiêm còn ngồi canh tôi thêm một tuần nữa mới chịu về phòng mình ngủ. Anh Sình không bao giờ nhắc lại chuyện ấy, nhưng năm sau anh xin huyện kinh phí xây lại cái rãnh thoát nước trên khúc cua cũ.
Tay thằng Sử liền xương sau hai tháng. Ông Lử cho nó xuống trạm chơi lại, và nó học tiếng Kinh rất nhanh, nói giọng lơ lớ như mọi đứa trẻ trong bản. Không bao giờ nó nói "ứ" nữa. Thỉnh thoảng nó nhìn ra sau lưng tôi, rồi lắc đầu, bảo: không có ai.
Anh Tiến dựng một tấm bia nhỏ bằng đá xanh dưới gốc sau sau, khắc tên ba người. Anh mất năm 2018. Thương thi đỗ sư phạm, cái nghề bố cô học dở. Tôi ở trạm thêm bốn năm nữa rồi chuyển xuống huyện.
Cuốn sổ khám cũ tôi vẫn giữ. Thỉnh thoảng tôi lấy ra lật, xem hai nét chữ đi bên nhau, một đứng, một nghiêng.
Trang cuối cùng có chữ là trang sau đêm đám táng ở Hải Hậu. Tôi không nhớ mình đã mở sổ đêm ấy. Giữa trang trắng, nét chữ nghiêng viết hai chữ, rất nhỏ, không ký tên: cảm ơn.
Từ đó, tôi để cuốn sổ mở trên bàn bao nhiêu đêm, nó cũng không thêm một nét nào.