Chương 10: Đoạn phim trong máy
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Chị Xiêm kéo tôi lên khỏi hố. Chúng tôi ngồi dưới gốc sau sau, lưng dựa vào nhau cho đỡ rét. Chị không đưa ngay điện thoại cho tôi. Chị kể trước.
Từ cái đêm chị nghe thấy giọng dưới xuôi nói "ứ" với "bu" trong phòng khám, chị đã nghi. Rồi đến hôm chị lật tay tôi ra xem. Chị bảo chị đỡ đẻ hai mươi năm, chị biết tay người làm gì qua vết chai. Chị không nói với anh Sình. Chị sợ anh báo lên huyện, người ta đưa tôi đi viện tâm thần, rồi chẳng còn ai tìm cho người đàn ông kia nữa.
Chị bảo chị quay hai lần. Lần đầu là đêm tôi đi thị trấn về.
Chị đưa điện thoại cho tôi. Màn hình nhỏ, hình nhòe, tối. Góc quay từ khe cửa gian phòng đẻ nhìn sang phòng khám. Có một người ngồi ở bàn khám, ánh đèn tích điện hắt lên mặt từ dưới. Người ấy là tôi.
Tôi ngồi thẳng lưng, mắt mở hé, đầu hơi nghiêng như đang nghe ai đọc. Tay phải tôi cầm bút, viết rất nhanh vào cuốn sổ khám. Viết không cúi đầu nhìn trang giấy. Miệng tôi mấp máy, rồi phát ra tiếng, cái giọng đặc sệt Hải Hậu mà tôi chưa bao giờ nói được, kể cả hồi ở quê:
"Bu ơi, con viết nốt cái này rồi con về. Bu đừng gửi lạc nữa, ở trên này ứ ai ăn."
Rồi tôi trong màn hình đứng dậy. Cúi xuống buộc dây giày, buộc hai nút, giật mạnh. Đi thẳng đến cái đinh treo chìa khoá kho. Đi ra phía bếp.
Lúc quay về, tay tôi cầm cái xẻng. Tôi mở cửa phòng khám, bước ra ngoài, đi vào sương. Đoạn phim tắt. Chị Xiêm bảo đêm ấy chị không dám theo.
Đoạn thứ hai là đêm nay. Ánh sáng là đèn pin của chị, rọi từ xa, rung bần bật theo nhịp thở. Tôi thấy tôi đứng bên miệng hố dưới gốc sau sau, đèn pin trong tay. Tôi nghe thấy tiếng tôi gọi "anh Hùng", hai lần, giọng vỡ. Rồi tôi đứng im.
Tôi đứng im rất lâu. Rồi hai vai tôi chùng xuống, lưng hơi gù lại, đầu cúi xuống như một người quen cúi trên taluy. Tôi buông đèn pin. Tôi bước xuống hố, cúi nhặt một phiến đá dẹt, bắt đầu đào. Đào đều, khoẻ, không nghỉ, miệng đếm: "Một, hai, ba, dô." Cái nhịp đếm của người làm đường.
Có một lúc, giữa chừng, tôi trong màn hình ngẩng lên. Nhìn thẳng vào ống kính. Mặt tôi lấm đất, và tôi cười, một nụ cười hiền, hở lợi, không phải nụ cười của tôi.
"Chị Xiêm về đi. Rét đấy."
Tôi trả điện thoại cho chị. Tay tôi không cầm nổi nữa.
"Chị có thấy người đội mũ cối không?"
Chị Xiêm lắc đầu. Chị bảo cả hai đêm, chị chỉ thấy một người. Chỉ có tôi.
Chúng tôi dìu nhau xuống đèo. Đến trạm, ông Lử đã ngồi đợi ở bậc cửa. Ông vừa ở huyện về, thằng Sử phải bó bột, nằm lại viện mấy hôm với mẹ. Anh Sình đứng sau ông, mặt xám ngắt. Chị Xiêm đưa điện thoại cho anh xem. Anh xem hết, không nói một câu, rồi đi pha cho tôi một cốc nước đường nóng.
Ông Lử ngồi xuống cạnh tôi. Ông bảo thằng Sử nhờ ông nói lại với y sĩ, giờ thì nói được rồi.
Ông kể, từ buổi chiều khâu tay, thằng Sử đã thấy anh Hùng. Một người đàn ông Kinh, mặt mũi lấm đất, đội mũ cối, đứng sau lưng y sĩ. Có lúc đứng sau, có lúc lẫn vào người y sĩ, như hai người mặc chung một cái áo. Anh ấy nói với y sĩ suốt mà y sĩ không nghe. Anh ấy quay sang nhờ thằng bé nói lại. Thằng bé không biết tiếng Kinh, anh ấy nói chữ nào, nó nhắc chữ ấy, nhắc cả cái giọng. Nó bảo với y sĩ "chú nói", là nó muốn nói, cái chú đứng sau lưng chú nói.
"Thằng Sử không bị cái gì vào người cả." Ông Lử nói chậm. "Hôm ấy tôi bảo y sĩ rồi."
Đêm nào thằng bé cũng đứng ở đầu hồi nhìn xuống quốc lộ. Cái nó thấy đi lên đèo, có đèn pin, là y sĩ. Nó đi theo y sĩ để gọi y sĩ về. Nó gọi mà y sĩ không quay lại, vì người đang đi trên đường không phải y sĩ nữa.
Chị Xiêm ngồi ở bậc cửa, cúi mặt. Chị nói nhỏ, không nhìn tôi, rằng hôm ông Vàng cúng, chị đã không dịch hết. Ông Vàng nói con ma không đi theo y sĩ. Nó ở trong người y sĩ. Nó mượn người cùng quê để đi tìm mình. Hai mảnh sừng cùng sấp dưới chân ghế là nó không chịu ra.
Tôi đi vào phòng, lôi cuốn sổ khám từ đáy ba lô lên. Tôi ngồi lật từng trang, từ đầu.
Chữ tôi đứng, to, xấu. Chữ anh Hùng nghiêng, đều, đẹp. Mực cùng một màu, cùng một cây bút. Ở trang có lần tôi ghi chuyện cái cọc mười hai, giữa chừng một dòng chữ tôi, nét chữ bắt đầu ngả. Ngả dần, từ chữ này sang chữ kia, như một người đứng thẳng từ từ cúi xuống. Cuối dòng thì đã thành chữ của anh. Hồi ấy tôi không nhận ra, vì tôi chưa bao giờ đọc lại trang của mình.
Cuối cuốn sổ có thêm một trang tôi chưa thấy, viết từ đêm tôi đi thị trấn về. Chỉ hai dòng.
"Tâm ơi, tao mượn mày mấy đêm. Tao xin lỗi thằng bé."
Tôi gọi cho anh Tiến. Tôi bảo anh lên ngay, đưa cả người nhà anh Hùng lên. Tôi bảo tôi tìm thấy cái đèn bão rồi.
Đêm ấy tôi nhờ chị Xiêm lấy một cuộn băng gạc, buộc cổ chân tôi vào thành giường sắt. Chị buộc ba vòng, thắt nút chết.
Sáng ra, tôi vẫn nằm trên giường. Cuộn băng gạc đã được tháo ra, cuộn lại tròn trịa, đặt ngay ngắn bên gối. Chỗ cổ chân tôi không có vết hằn nào. Trên mặt bàn, đôi giày ba ta xếp song song, dây giày buộc hai nút chặt, như đã sẵn sàng cho một ca đi làm.