☾ Truyện Ma Có Thật
← Hòn đá trắng trên đèo

Chương 3: Mùi bếp củi

Khoảng 4 phút đọc·3lượt xem

Sáng hôm sau tôi đi tìm mùi khói.

Tôi mở cửa sổ nhìn xuống ngõ. Ngõ hẹp, nhà nào cũng bốn năm tầng, ban công chĩa sát vào nhau. Không có ống khói nào. Nhà cô Hằng nấu bếp ga, mấy phòng trọ khác nấu bếp từ hoặc nồi cơm điện. Cả cái ngõ ấy không ai đun củi, có muốn đun cũng không có chỗ.

Tôi ngửi chăn, ngửi gối, ngửi áo gió treo sau cửa. Áo gió còn mùi bụi đường và mùi dầu xe, không có mùi khói. Tôi nghĩ có lẽ tại cái đầu chấn động của mình. Bác sĩ dặn có thể đau đầu, chóng mặt, ngửi thấy mùi lạ vài hôm. Tôi tin thế.

Ngân dậy sớm hơn tôi, đã đi học. Cái chiếu cói trên giường nó phẳng phiu, không một nếp nhăn, như chưa ai nằm.

* * *

Cuối tuần ấy tôi xuống đóng tiền nhà. Cô Hằng đang nhặt rau ngoài sân, con chó vàng nằm dưới chân. Tôi đưa đủ tiền phòng như mọi tháng, phần của tôi và phần Ngân gửi. Cô đếm, rút ra một nửa, dúi lại vào tay tôi.

"Thôi, tháng này cô lấy một suất thôi. Cháu đừng nghĩ ngợi gì."

Tôi bảo cô cứ lấy đủ, Ngân gửi tiền rồi. Cô nhìn tôi một lúc rất lâu, mắt đỏ lên, rồi gập tay tôi lại.

"Cô bảo cầm thì cầm. Cháu ăn uống vào cho lại sức."

Tôi cầm. Tôi nghĩ cô thương tôi vừa ngã xe. Lúc tôi quay lên, con chó vàng đứng dậy đi theo đến chân cầu thang, rồi dừng lại ở bậc đầu tiên. Nó gầm gừ khe khẽ trong cổ, mắt nhìn lên tầng ba. Bình thường nó vẫn chạy lên tận cửa phòng tôi xin xương.

* * *

Tối ấy tôi mua hai hộp cơm rang ở quán đầu ngõ. Ngân về lúc trời đã tối hẳn, không bật đèn, ngồi xuống mép giường. Tôi đẩy hộp cơm sang.

"Tao ăn ở căng tin rồi."

Tôi ăn một mình. Hộp cơm của Ngân tôi để trên bàn gấp, dặn nó đói thì ăn. Sáng ra hộp cơm vẫn nguyên, nắp đậy kín, đôi đũa còn nguyên trong vỏ giấy. Tôi đổ đi.

Hôm sau cũng thế. Hôm sau nữa cũng thế. Ngân bảo nó đang giảm cân, bảo ở trên Hà Giang ăn thắng cố nhiều quá giờ ngấy mỡ. Tôi bảo mày gầy rộc đi rồi còn giảm gì. Nó cười, không trả lời.

Tôi không để ý nhiều. Hồi ấy tôi đau đầu suốt, ngủ nhiều, đi học buổi được buổi không. Ngân thì sáng đi tối về. Hai đứa ở chung một phòng mà gặp nhau chủ yếu lúc đã tắt đèn.

* * *

Tin nhắn là thứ đầu tiên làm tôi thấy lạ.

Một chiều tôi ở thư viện, nhắn cho Ngân hỏi nó có mua gì ăn tối không, để tôi mua luôn. Tôi gửi lúc năm giờ hai mươi tám phút. Điện thoại rung gần như ngay lập tức. Ngân trả lời: "Thôi, tao không ăn đâu."

Tôi nhìn giờ tin nhắn của nó. Năm giờ hai mươi lăm.

Tin trả lời của nó đến trước câu hỏi của tôi ba phút. Trong khung tin nhắn, câu trả lời nằm ở trên, câu hỏi của tôi nằm ở dưới, lộn ngược như hai người nói chuyện mà một người biết trước người kia sẽ hỏi gì.

Tôi nghĩ đồng hồ máy nó chạy sai. Tối về tôi bảo Ngân chỉnh lại giờ điện thoại. Nó bảo ừ. Tôi không thấy nó lấy điện thoại ra. Cả mấy tuần sau đó, tôi cũng chưa thấy nó cắm sạc lần nào.

* * *

Mùi khói không hết. Nó không đến mỗi tối, nhưng cứ đến là đến lúc đèn đã tắt. Mùi gỗ ướt cháy âm ỉ, cay sống mũi, và lần nào cũng phảng phất mùi mỡ như ai vừa nướng gì trên than. Có đêm tôi dậy bật đèn, phòng sáng trưng, không một làn khói, nhưng mùi vẫn đứng đó, dày đến mức tôi ho.

Tôi hỏi Ngân có ngửi thấy không. Ngân bảo có. Nó nói rất bình thường, như người ta bảo trời hôm nay rét.

"Mùi bếp nhà bà ấy đấy."

Tôi hỏi bà nào. Ngân không trả lời. Nó quay mặt vào tường.

Một đêm gần cuối tháng, tôi tỉnh dậy vì lạnh. Cửa sổ mở toang, gió tháng Mười Một lùa vào. Tôi nhớ chắc chắn tôi đã cài chốt trước khi ngủ.

Ngân đứng ở cửa sổ. Ánh đèn đường từ ngõ hắt lên một nửa người nó. Nó cầm hòn đá trắng trên tay, xoay xoay trong lòng bàn tay, như người ta xoay một quả trứng để xem có nứt không.

Tôi gọi nó. Nó không quay lại. Nó đặt hòn đá xuống bậu cửa, đúng vào chỗ cũ, rất nhẹ.

"Hôm ấy mày nên để lại."

Giọng nó nghe khàn, như người vừa ngồi cạnh bếp lửa cả buổi. Rồi nó trèo lên giường, nằm quay lưng ra ngoài. Tôi nằm nhìn cái lưng ấy đến sáng, không dám nhắm mắt, không dám dậy đóng cửa sổ.