☾ Truyện Ma Có Thật
← Hồn gọi ở công trình

Chương 5: Góc tường không khô

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi kéo cái bao tải ra sau lán, để lại chỗ cũ. Cục gạch tôi liệng ra bờ kênh. Chuyện đó tôi cũng không kể ai. Một cai thợ mà đi kể ma thì đội thợ tan trước khi công trình xong.

Nhưng cái góc đông bắc thì tôi phải báo. Lớp vữa trát lại lần thứ hai đã bong. Vệt sẫm lan lên vách lõi thang máy cao ngang thắt lưng. Thợ điện không chịu đi dây qua chỗ đó, nói sợ chập.

Anh Khoa xuống coi. Anh ngồi xổm, lấy móng tay cạy một mảng vữa, đưa lên mũi ngửi, nhăn mặt.

"Nước ngầm thôi. Đất ven kênh, nền đắp, có túi nước. Gọi đội chống thấm khoan bơm keo vô là xong."

Đội chống thấm tới ngày hôm sau. Ba người, máy khoan, máy bơm keo, làm từ sáng tới chiều. Họ khoan một hàng lỗ dọc chân vách, cắm kim, bơm keo chống thấm vào cho tới khi keo trào ra mặt. Anh thợ cả nói chỗ này rút keo dữ lắm, như bên dưới có lỗ hổng lớn.

Sáng hôm sau tôi xuống trước khi đội vô. Đèn tuýp vừa bật, chưa sáng hẳn, nhấp nháy mấy lần.

Vết ướt đã quay lại. Lần này nó không loang đều như trước. Trên mặt vách, ngay trên hàng kim chống thấm, có hai vệt sẫm màu hằn rõ, mỗi vệt một bàn tay xòe năm ngón. Bàn tay nhỏ, ngón ngắn, lóng tay to như tay người làm lụng nặng. Hai bàn tay áp sát nhau, ngang tầm mặt một người thấp, như có ai bên trong vách ép tay lên mà đẩy ra.

Tôi đứng nhìn lâu lắm. Tôi đưa tay mình lên áp thử vào một vệt. Vách lạnh như mặt đá vừa vớt dưới nước, và tay tôi to hơn vệt đó nhiều.

Tôi chụp hình bằng điện thoại, gửi anh Khoa. Một tiếng sau anh gọi lại, giọng gắt.

"Anh Bảy, đừng có làm vậy nữa. Hôm qua có thằng thợ nào đó đăng lên mạng chuyện lên đồng. Bên chủ đầu tư gọi tôi lên hỏi. Giờ mà thêm hình bàn tay ma thì công trình này dẹp. Anh cho trát xi măng bịt lại hết, sơn chống thấm phủ lên. Tôi không muốn nghe thêm."

Tôi cho thợ trát lại. Tôi không cãi. Nhưng chiều đó tôi xin về sớm.

Thằng cháu tôi đang học đại học ở Thủ Đức. Tôi chạy xe xuống phòng trọ nó, nhờ nó tìm trên mạng chuyện giải tỏa xóm Lò Vôi năm 2009. Nó gõ một hồi, tìm ra mấy bài báo cũ. Một bài ngắn tả cảnh cưỡng chế, người thuê trọ ôm đồ ngồi dọc bờ kênh, không có tiền hỗ trợ vì không có tên trong hồ sơ.

Bài đó có một tấm hình. Chụp từ xa, mờ, một dãy phòng trọ đã bị đập nửa. Trước dãy phòng có một người ngồi trên đống bao tải, lưng còng, đội nón lá, mặt không thấy. Không ghi tên ai.

Tôi bảo cháu phóng to. Nó phóng tới vỡ hình. Cái nón chỉ còn là một đốm sáng, cái quai không thấy rõ màu.

Hôm sau tôi lại ra quán bà Năm. Tôi không hỏi bà ai mất tích nữa. Tôi hỏi hồi giải tỏa, ai là người chạy máy, ai là người làm cho công ty cũ, giờ còn ở quanh đây không. Bà Năm nhìn tôi một hồi lâu, rồi hất cằm ra phía đầu hẻm.

"Ông Tư nước mía đó. Hồi đó ổng chạy máy xúc cho công ty kia. Mà cưng hỏi ổng thì hỏi nhẹ nhẹ. Ổng uống rượu nhiều lắm."

Xe nước mía của chú Tư đậu dưới gốc cây bàng đầu hẻm, cách cổng công trình chừng năm chục mét. Tôi mua nước mía của chú cả tháng nay mà không để ý. Chú Tư ngoài sáu chục, gầy, da cháy nắng, hai mắt lúc nào cũng đỏ. Chú ít nói, ép mía xong là ngồi lên cái ghế đẩu nhìn qua bên công trình.

Tôi mua một ly, đứng uống, rồi hỏi chú hồi xưa chạy máy cho bên giải tỏa phải không. Chú gật, không nhìn tôi.

"Chạy có mấy tháng. Rồi nghỉ."

"Hồi đó trong xóm có bà cụ nào lượm ve chai, hay đội cái nón lá quai bằng vải sọc xanh không chú?"

Cây mía trên tay chú Tư rớt xuống đất. Chú cúi xuống lượm, tay run tới nỗi lượm hai lần mới được. Chú nhét cây mía vô máy, quay cái tay quay, tiếng bánh răng nghiến rè rè át cả tiếng xe ngoài đường.

"Tui hổng biết bà nào hết. Xóm đó cả trăm người."

Tôi trả tiền, cám ơn, quay đi. Đi được mấy bước thì chú Tư kêu lại. Tôi quay đầu. Chú vẫn ngồi trên ghế đẩu, tay bấu chặt mép xe nước mía, mắt nhìn qua hàng rào tôn của công trình, nhìn đúng về phía lõi thang máy đang dựng lên giữa khu đất.

"Mấy chú làm gì thì làm. Đừng có đục cái góc đó."

Tôi chưa hề nói với chú về cái góc nào.