☾ Truyện Ma Có Thật
← Khói thuốc lào bên bàn thờ bà

Chương 3: Cuộc gọi hồn qua màn hình

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Má tôi là người đề nghị gọi hồn. Má nói bà nội đi một mình, chết một mình, không ai vuốt mắt, không ai thay đồ. Má muốn hỏi bà có lạnh không, có đói không, có giận con cháu không. Má nói câu đó xong thì khóc, ba tôi không cãi.

Người má nhờ là cô Bảy, một bà đồng ở Tân Uyên. Hồi ông nội mất, má có lên nhà cô xin keo. Giờ thì không ai đi đâu được. Đường từ Dĩ An lên Tân Uyên chốt chặn mấy chỗ, ra đường phải có giấy. Cô Bảy nói không sao, cô gọi qua Zalo cũng được, miễn bên này có người cầm máy cho đúng hướng bàn thờ.

Người cầm máy là tôi, vì tôi rành điện thoại. Hôm đó là mười bốn tháng Bảy âm lịch, ngày cúng cô hồn. Má tôi cúng hai mâm. Một mâm cháo trắng, bánh kẹo, gạo muối đặt ngoài hiên cho người khuất mặt. Một mâm cơm có canh chua cá lóc, món bà thích, đặt trong phòng thờ.

Tôi gắn điện thoại lên cái giá ba chân, quay về phía bàn thờ. Tôi kiểm tra sóng. Mạng nhà tôi là mạng cáp quang, tôi tự kéo, tự cấu hình, ổn định hơn mạng ở nhiều nhà xưởng. Cả nhà ngồi xếp bằng trên chiếu, sau lưng cái giá. Ba tôi đeo khẩu trang dù đã hết sốt.

Trên màn hình, cô Bảy ngồi trước điện thờ của cô, nhang khói mù mịt. Cô cột khăn đỏ, mặc áo dài đen. Cô hỏi tên tuổi bà, ngày sinh, ngày mất, quê quán. Má tôi đọc từng chữ. Cô Bảy gật gù, khấn một hồi dài bằng giọng đều đều, rồi nhắm mắt lại.

Tôi nhìn khung hình nhỏ của bên mình ở góc màn hình. Thấy bàn thờ, tấm hình bà, cái hũ trùm khăn vàng, khói nhang bay thẳng lên. Rồi khói nhang bẻ ngang, như có ai thổi.

Cô Bảy bắt đầu lắc người. Lúc đầu lắc nhẹ, rồi mạnh dần. Đầu cô gục xuống ngực. Tiếng khấn dừng lại. Có một khoảng im lặng dài tới mức tôi tưởng mạng rớt. Tôi nhìn biểu tượng sóng. Vẫn đầy.

Rồi cô Bảy ngẩng đầu. Cô ho.

Tiếng ho khan, khục khục, tiếng ho của người đàn ông hút thuốc lâu năm. Ngọc ngồi cạnh tôi chụp lấy cánh tay tôi. Móng tay em bấm vô da tôi.

Cái giọng nói ra sau đó không phải giọng cô Bảy. Trầm, khàn, nói chậm, cái giọng nặng như đất thịt. Không phải giọng miền Nam. Ba tôi sau này nói ba nghe là biết liền, giọng Thanh Hóa, hồi ba chạy xe tải ra Bắc ba gặp hoài.

"Đây là cấy nhà ai thế này?"

Má tôi bò lên phía trước, chắp tay.

"Má ơi. Má phải hông má? Con là con Lan nè má."

"Má mô? Tao có phải má ai đâu."

Cả nhà im phăng phắc. Người trong máy quay đầu nhìn quanh như đang nhìn căn phòng của nhà tôi, chứ không phải điện thờ nhà cô. Ánh mắt đó lướt qua màn hình, dừng lại ở chỗ tôi ngồi.

"Con Na đâu? Tao về với con Na chứ. Tao bảo nó rồi, Tết này tao về. Nhà ni là nhà ai?"

Ba tôi hỏi, giọng run: "Ông là ai? Ông ở đâu tới đây?"

Người trong máy không trả lời câu đó. Ông ta xoa ống chân bên trái, nhăn mặt. Ông nói như than với chính mình.

"Cấy chân sắt này nặng quá. Đi mô cũng kéo lê."

Rồi ông ta đưa tay chỉ về phía sau lưng bàn thờ, về phía bức tường giáp phòng của Ngọc. Giọng bỗng có vẻ bực.

"Cấy tường sau lưng tao đây, thằng mô tô thế? Cát không sàng, vữa trộn loãng. Nứt chân chim cả rồi. Mấy năm nữa nó bung ra cho mà xem."

Má tôi khóc nấc lên. Ngọc thì đã buông tay tôi, ôm mặt. Tôi ngồi im, hai tay nắm chặt cái giá điện thoại để hình khỏi rung.

Người trong máy ho thêm một tràng, cúi người, như sắp khạc. Rồi ông ta ngẩng lên, nhìn thẳng vô ống kính. Tôi thấy rõ đôi mắt cô Bảy, nhưng cái nhìn thì của ai khác. Một cái nhìn mệt mỏi, khẩn khoản.

"Mi đưa tao về với con Na. Tao xin mi."

Màn hình đứng hình. Cuộc gọi tự ngắt. Tôi bấm gọi lại ba lần, đổ chuông mà không ai bắt.

Mười lăm phút sau cô Bảy gọi lại. Mặt cô tái xanh, mồ hôi ướt khăn đỏ. Cô nói nhanh, giọng Bắc pha Nam của người di cư lâu năm, khác hẳn cái giọng khi nãy.

"Không phải bà nhà mình đâu. Vong lạ. Đàn ông. Chắc chết cùng đợt với bà ở trong khu, rồi theo hũ tro về đây. Đợt này người chết nhiều, vong nó lạc, nó bám theo ai được thì bám."

Má tôi hỏi bà nội đâu. Cô Bảy im một lúc mới nói: "Cô gọi mà bà không lên. Chắc bà bị giữ chỗ khác, hoặc bị vong kia lấn. Nhà mình phải cúng cho vong lạ đi trước, rồi cô gọi bà lần nữa."

Cô dặn má cúng cháo, cúng tiền vàng cho vong lạ ở góc hiên, khấn mời ông ấy đi. Đừng mắng, đừng đuổi, người chết dịch ai cũng tội. Cô nói xong thì xin cúp máy, nói cô mệt quá.

Cả nhà ngồi nhìn nhau. Mâm cơm canh chua đã nguội. Khói nhang lúc này lại bay thẳng.

Ba tôi đứng dậy trước. Ba không nói gì, đi thẳng tới bàn thờ. Ba bưng tấm hình bà xuống đưa cho má, bưng cái hũ xuống đưa cho tôi. Cái hũ lạnh và nặng trong tay tôi. Rồi ba nắm hai đầu cái bàn thờ gỗ, kéo nó dịch ra khỏi tường.

Sau lưng bàn thờ, bức tường quét vôi vàng mà cả nhà nhìn hằng ngày mà không thấy. Từ góc trần chạy xuống ngang tầm ngực là một đường nứt. Nhỏ, ngoằn ngoèo, toả ra từng nhánh như rễ cây.