Chương 8: Bố vẫn để giờ bên ấy
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Chín giờ sáng hôm sau, cả nhà tôi ngồi trước cái máy tính bảng của Ngọc, dựng trên bàn ăn. Tôi bấm gọi. Chuông đổ một hồi là chị Na bắt máy.
Chị ngồi trên một chiếc giường tre, sau lưng là bức tường vôi xanh có treo cuốn lịch. Chị gầy, mặt tròn, tóc buộc vội, mắt sưng như khóc nhiều đêm. Trên tay chị là một thằng bé chừng hai tháng tuổi, đang ngậm ti. Chị nhìn cả nhà tôi qua màn hình rất lâu, như để xem chúng tôi có thật hay không.
"Em chào hai bác. Em là Na. Con bố Thự."
Má tôi chắp tay chào lại, rồi khóc, không nói được câu nào. Ba tôi nói thay má, giọng chậm và khàn. Ba nói nhà tôi xin lỗi chị, không biết vì sao mà ông ở đây, nhưng nhà tôi không có ý giữ ông.
Chị Na lắc đầu. Rồi chị kể về bố chị, như người ta kể khi đã nín lâu quá.
Bố chị tên Lê Văn Thự, sáu mươi mốt tuổi, quê một xã ven sông ở Nông Cống, Thanh Hóa. Mẹ chị mất năm 2003 vì bệnh thận, để lại một đống nợ tiền chạy chữa. Năm đó bố chị vô Bình Dương làm hồ. Mười tám năm, ông theo cai đi khắp các công trình ở Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên. Ở trọ một mình, ăn cơm bụi, tháng nào cũng gửi tiền về cho bà nội nuôi chị đi học.
"Năm 2012 bố em ngã giàn giáo tầng ba. Gãy ống chân trái. Người ta bắt nẹp sắt, bắt bốn cái vít. Bác sĩ dặn một năm sau phải mổ tháo ra. Bố em tiếc tiền, không tháo. Từ đấy bố đi cà nhắc, trời trở là kêu cái chân sắt nó nặng."
Ba tôi nhìn tôi. Tôi không nhìn lại ba.
Năm 2014 chị Na đi Đài Loan làm công nhân nhà máy điện tử, để trả cho xong khoản nợ. Sáu năm. Bố chị đổi giờ trong điện thoại sang giờ Đài Bắc, để biết khi nào con tan ca mà gọi. Cứ sáng sớm bên này là chị bên ấy vừa ăn cơm trưa xong, bố gọi. Câu đầu tiên lúc nào cũng hỏi mấy giờ rồi, bên ấy.
"Em về nước từ đầu năm 2020, cưới chồng, ở quê luôn. Em bảo bố đổi giờ lại đi. Bố bảo để thế quen rồi, đổi lại lại nhầm. Đến lúc bố mất, cái điện thoại bố vẫn để giờ bên ấy."
Chị cúi xuống nhìn thằng bé trên tay. Nó đã ngủ, miệng còn nhóp nhép.
"Bố hẹn Tết này về bế cháu. Thằng cu đẻ tháng Sáu, đúng lúc trong ấy đóng cửa. Bố chỉ được nhìn nó qua điện thoại. Bố bảo cái mũi nó giống bố."
Tôi hỏi chị về những ngày cuối. Chị kể bố chị dương tính cùng cả dãy trọ, bị đưa đi ngày hai mươi lăm tháng Bảy. Hai ngày đầu bố còn gọi được, giọng khò khè. Ông kể giường bên cạnh có một bà cụ người trong Nam, nhỏ xíu, đêm nào cũng hát. Bố chị bảo nghe không hiểu bà hát gì mà nghe đỡ sợ.
Má tôi nghe tới đó thì bật ra một tiếng nấc, đưa tay bịt miệng. Ba tôi đặt tay lên lưng má.
Rồi bố chị không gọi nữa. Ngày ba tháng Tám có người gọi về báo tin. Không ai ngoài quê vô được. Tro cốt về tới cổng ngày mười tám, trên chiếc xe của một đoàn thiện nguyện chở mấy chục hũ ra miền Trung, miền Bắc. Chồng chị là Cường, chạy xe tải chở hàng, ra tận đầu tỉnh lộ đón.
"Em thờ bố được hai tuần thì đêm kia có người gọi. Em nghe tiếng ho, tiếng rít điếu. Đúng tiếng bố em. Em tưởng có người ác trêu. Em chửi anh, em xin lỗi anh."
Tôi lắc đầu. Tôi nói tôi hiểu.
Ba tôi hỏi chị Na một câu. Ba hỏi rất chậm, như sợ nghe câu trả lời: "Vậy là ông Thự đi lạc theo hũ tro má tui về đây. Còn nhà con, có ai đi lạc tới hông?"
Chị Na im. Chị nhìn ra phía sau màn hình, chỗ chúng tôi không thấy. Rồi chị bế thằng bé đứng dậy, đi qua một khung cửa, vô một gian nhà khác. Màn hình chao đảo, lướt qua một bộ bàn ghế gỗ, một cái tủ thờ sơn đỏ, rồi dừng lại ở bậc cửa.
Chị ngồi xuống bậc cửa, quay máy về phía chị. Giọng chị nhỏ hẳn đi.
"Hai bác ạ. Nhà em không ai biết hát những bài trong Nam. Mẹ chồng em người Như Thanh, cả đời chưa vô Nam lần nào."
Chị nuốt nước bọt.
"Từ hôm bố về, đêm nào cũng có người ru thằng cu. Em nằm cạnh nó mà nghe, nghe rõ lắm. Giọng một bà cụ, giọng trong Nam, ru nhỏ nhỏ. Em thức dậy thì thằng cu đang nằm cười, tay quơ quơ lên không. Em không hiểu bà hát gì. Chỉ nhớ được mỗi câu đầu."
Má tôi nhích lại sát màn hình. Môi má run.
"Câu gì con?"
Chị Na ngập ngừng một lúc, rồi hát thử, vụng về, giọng Thanh Hóa uốn theo một điệu không phải của mình.
"Ví dầu... cầu ván đóng đinh..."
Má tôi buông tay khỏi bàn. Cái máy tính bảng nghiêng đi, đập xuống mặt bàn đánh cạch một tiếng.