☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng thưa thứ mười tám

Chương 10: Sáng mùng sáu

Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem

Tết năm 2006 tôi không về.

Mẹ tôi gửi thư lên, chữ nghiêng, hỏi sao con không về, Tết đầu xa nhà. Tôi viết lại là đường xa, xe khó. Thật ra xe không khó. Tôi không về vì tôi biết nếu tôi xuống núi, sáng mùng sáu sẽ không có ai mở cửa lớp.

Chở khỏi sốt sau một tuần, gầy đi, mắt to hơn. Nó đi học lại, vẫn ngồi bàn cuối, vẫn chừa đầu ghế. Nó không nhắc gì đến câu nó nói hôm sốt. Tôi cũng không hỏi.

Ông Pó mời tôi ăn Tết. Rượu ngô, thịt treo gác bếp, bánh dày giã từ hôm ba mươi. Lúc đã ngà ngà, tôi nói với ông, năm nay mùng bốn con mở lớp đúng ngày. Ông nhớ sang Lũng Sủi báo giúp con.

Ông Pó cầm chén nhìn tôi một lúc.

"Năm nay tôi sang. Năm ngoái tôi không sang."

Ông uống cạn. Tôi thấy ông định nói gì nữa. Ông không nói.

* * *

Mùng bốn, mùng năm, lớp mở đúng giờ, mười bảy đứa đến đủ. Mùng sáu, tôi dậy từ ba giờ.

Tôi nhóm bếp giữa lớp cho lửa to. Tôi thắp đèn dầu, vặn bấc cao. Tôi mở toang cửa lớp. Sương muối ngoài sân trắng như trải vôi, rét ùa vào, lửa bếp ngả nghiêng. Tôi kệ. Tôi đặt quyển sổ điểm danh của tôi lên bàn, mở trang danh sách, và ngồi xuống ghế giáo viên, mặt hướng ra cửa.

Ba giờ năm mươi, tôi ra sân, gỡ cái dùi gỗ đào trên đinh, gõ vào vành bánh xe ba tiếng. Tiếng cao, mảnh, của nó. Tôi treo dùi lại, vào lớp, ngồi xuống.

Rồi tôi đọc.

"Vàng Mí Sính."

Lửa nổ. Sương ngoài sân đứng im. Không có gì.

Tôi đọc tiếp. Mười bảy tên. Đọc chậm, rõ từng tên, vào một lớp trống không có đứa nào thưa. Đọc đến Giàng Thị Pà. Tôi không gập sổ. Tôi nói to vào khoảng trống trước mặt:

"Hết rồi."

"Có à."

Từ bậc cửa. Và lần này tôi nhìn thấy nó.

Nó đứng trong khung cửa, trên bậc đá, nền sương xám sau lưng. Một bóng nhỏ, áo bông đen, mũ nồi, chân trần. Ánh đèn dầu không tới mặt nó. Tôi chỉ thấy hình dáng, và hai bàn tay buông thõng, và hơi lạnh tràn vào lớp mạnh đến mức lửa bếp rạp xuống.

Tôi không đứng dậy. Tôi sợ đứng dậy thì nó đi. Tôi nói, giọng khẽ:

"Thầy về rồi."

Nó im một lúc. Rồi nói, cái giọng khàn bé ấy, nhưng có một thứ trong giọng mà tôi chưa nghe thấy bao giờ. Như mừng.

"Thầy về rồi à."

"Ừ. Thầy về rồi. Em vào đi, trong này có lửa."

Nó không vào. Nó đứng ở bậc cửa, đúng chỗ khô. Đêm sương muối nó đã tự vào, lúc trong lớp không có ai. Giờ có thầy ngồi đấy, nó đứng chờ, như đứa trẻ ngoan chờ thầy gọi mới dám bước qua.

"Thầy bảo em ngồi đây chờ. Em ngồi. Người không đến. Thầy cũng không đến."

Tôi hỏi, thầy Thiện bảo em thế lúc nào.

"Lúc thầy bế em."

Tôi không hiểu. Tôi hỏi lại, bế em ở đâu. Nó nghiêng đầu, như đứa trẻ bị hỏi một câu quá hiển nhiên.

"Ở đây."

Rồi nó nói thêm, nhỏ hơn, gần như thì thầm.

"Lạnh lắm thầy. Thầy đừng đi nữa."

Tôi đứng dậy. Tôi không kìm được. Tôi bước về phía cửa, tay đưa ra. Lửa bếp tắt phụt như có ai úp nồi lên, đèn dầu tắt theo. Trong bóng tối tôi nghe một tiếng rất nhỏ ngoài bậc cửa, tiếng đứa trẻ hít một hơi dài, như trước khi khóc.

Rồi không còn gì.

* * *

Tôi đứng trong bóng tối lớp, hai tay đưa ra phía trước, rất lâu.

Lúc tôi lùi lại, lưng tôi va vào tấm bảng. Tấm ván sơn treo trên hai cái đinh, lâu ngày đinh lỏng, va mạnh thì trượt xuống một bên, kêu rầm. Tôi quờ tìm bao diêm, châm đèn.

Tấm bảng nằm nghiêng, hở ra khoảng tường đất phía sau. Trình tường ở đấy có một hốc, to bằng hai bàn tay, chắc từ hồi dựng nhà người ta để hụt một hòn đá. Trong hốc có một cái gói.

Ni lông bọc nhiều lớp. Buộc dây chun. Y như cái gói trên mái.

Tôi tháo ra. Một quyển vở học sinh bìa nâu, loại bán ở chợ phiên, đã ố. Mùi thuốc lào. Trên bìa, bằng mực xanh, chữ nghiêng đều tay, cái chữ tôi đã nhìn trong sổ điểm danh cả trăm lần:

Nguyễn Văn Thiện. Ai lên Lủng Chá sau tôi thì đọc. Đọc xong đừng đốt. Tôi không đốt được.

Tôi ngồi xuống ghế dài bàn cuối, đầu ghế sát cửa, chỗ không ai ngồi. Tôi để quyển vở lên đùi. Ngoài sân trời đang mờ sáng. Một tiếng nữa bọn trẻ sẽ đến.

Tôi mở trang đầu.