Chương 11: Quyển vở sau bảng
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Quyển vở ghi từ tháng Chín năm 2004. Những trang đầu là chuyện thường của một thầy giáo cắm bản. Mưa dột. Thiếu phấn. Một đứa bỏ học đi lấy chồng ở tuổi mười ba. Rượu ngô nhà ông Pó. Thỉnh thoảng có tên thằng Sính.
Thằng bé Lũng Sủi lại đến trước tôi. Bốn giờ nó đã ở gốc cây, tay cầm que củi thông cháy dở. Tôi mắng nó cầm dùi to rơi vào chân. Nó cười.
Nó đẽo cái dùi nhỏ. Gỗ đào. Vừa tay nó. Giờ sáng nào cũng ba tiếng của nó, tôi nằm trong chăn nghe là biết nó đến.
Nó hỏi bao giờ thầy gọi tên em. Tôi bảo bao giờ bố em làm giấy. Nó bảo bố em say. Tôi không biết nói gì. Điểm danh xong nó tự thưa, cả lớp cười, tôi cũng cười. Lẽ ra tôi không nên cười.
Tôi đọc nhanh những trang ấy. Tay tôi lật đến tháng Hai năm 2005.
Có một trang ghi ngày mùng bảy Tết. Chữ không còn nghiêng đều. Chữ to, xiêu, nhiều chỗ ngòi bút ấn rách giấy. Có những dòng gạch đi rồi viết lại. Tôi chép ra đây đúng như thế, không sửa chữ nào.
* * *
Tôi lên đến nơi khoảng bảy giờ. Trời còn tối vì sương. Từ sân tôi đã thấy nó.
Nó ngồi ở bậc cửa. Co. Hai tay kẹp giữa hai đầu gối. Mũ nồi của mẹ nó. Đôi dép xanh cởi ra để cạnh, sát nhau, mũi quay vào trong, như mọi hôm. Chân trần. Sương muối phủ lên vai nó, lên mũ nó, trắng.
Nó quay mặt vào cửa. Cửa khoá. Chìa trong túi tôi.
Tôi gọi nó. Tôi sờ nó. Tôi biết ngay.
Que củi thông cháy hết nằm cạnh. Cái dùi gỗ đào treo trên đinh. Nó đã đánh kẻng. Nó đã ngồi xuống chờ tôi mở cửa. Tôi ở dưới xã uống rượu.
Tôi không nhớ tôi đứng đấy bao lâu. Tôi nhớ tôi nghĩ: người ta sẽ nói gì. Thầy giáo bỏ lớp ba ngày không báo, trẻ con chết rét trước cửa lớp khoá. Tôi nghĩ đến huyện. Tôi nghĩ đến mẹ tôi. Tôi nghĩ toàn những thứ về tôi.
Tôi bế nó lên. Nó nhẹ như bó củi. Cứng.
Tôi bế nó xuống dốc Sủi, về phía nhà nó. Tôi đi trên sương muối, ủng in từng dấu. Đến gốc sa mộc giữa dốc, tôi đặt nó xuống, nằm nghiêng, quay mặt về Lũng Sủi, như nó đi học rồi mệt quá nằm xuống. Tôi sửa cái mũ cho nó. Tôi không hiểu sao tôi sửa mũ cho nó.
Rồi tôi nói với nó. Tôi nói ngồi đây chờ thầy, Sính nhé, thầy đi gọi người.
Tôi không biết sao tôi nói câu ấy với một đứa đã chết. Có lẽ vì tôi vẫn nói thế mỗi sáng khi đến muộn. Ngồi đấy chờ thầy. Có lẽ tôi muốn nó tưởng tôi sẽ quay lại.
Tôi không đi gọi người. Tôi quay lên lớp. Tôi nhặt đôi dép của nó ở bậc cửa đem vào để dưới gầm bàn cuối, vì tôi không đành để ngoài.
Tôi mở sổ. Tôi chấm có mặt cho mười bảy đứa ba ngày mùng bốn, mùng năm, mùng sáu, để nếu phòng kiểm tra thì lớp vẫn mở. Rồi tôi chấm cả nó. Ba dấu. Tôi không biết tại sao. Lúc chấm dấu thứ ba tay tôi run.
Đến trưa người ta kêu bên dốc. Tôi xuống xã báo tin. Tôi nói thằng bé chết trên đường đi học. Mọi người gật. Ai cũng thấy nó nằm ở dốc. Không ai hỏi tôi.
* * *
Sau trang ấy chỉ còn mấy dòng rải rác.
Sáng nay bốn giờ kẻng kêu ba tiếng. Tiếng cao. Tôi không ra.
Điểm danh xong nó thưa. Cả lớp im. Chúng nó biết. Tôi không biết chúng nó biết gì.
Con Chở ngồi bàn cuối chừa chỗ cho nó. Nó nhìn tôi. Nó không nói. Tay nó mất hai ngón vì đi tìm em.
Ông Pó lên lớp, đứng ở sân, nói với tôi: thầy ở được thì ở. Tôi hỏi ông biết gì. Ông bảo ông thấy dấu ủng trên sương muối sáng mùng sáu, từ lớp xuống dốc rồi từ dốc lên lớp, một chiều đi một chiều về. Ông bảo ông không nói với ai. Ông bảo nói ra thì huyện đóng điểm trường, không ai lên dạy nữa, hai mươi sáu nóc nhà không có chữ. Ông bảo thầy ở được thì ở.
Tôi không ở được. Tôi không gọi tên nó được. Gọi thì phải nhìn vào bậc cửa.
Ai lên sau tôi, gọi tên nó hộ tôi. Tôi xin.
* * *
Tôi gập quyển vở lúc tiếng chân bọn trẻ bắt đầu vang ở dốc.
Tôi không nhớ mình dạy gì sáng hôm ấy. Tôi nhớ tôi đọc mười tám tên, và sau tên cuối cùng tôi nói hết rồi, và nó thưa, và tôi nhìn thẳng vào bậc cửa khi nó thưa. Lần đầu tiên tôi nhìn vào đó không quay đi. Chỗ ấy khô. Chở ở bàn cuối cũng nhìn. Cả lớp nhìn theo. Không đứa nào cười.
Chiều, tôi sang nhà ông Pó. Tôi đặt quyển vở lên bàn trước mặt ông. Ông không mở. Ông nhìn bìa, rồi nhìn tôi, rồi rót rượu. Tay ông cầm chai không run.
"Tôi có con. Tôi có cháu. Chúng nó cần cái lớp ấy."
Tôi không nói gì. Tôi không có quyền nói gì. Tôi cũng từng đứng trong lớp nghe nó gọi thầy ơi mở cửa, và tôi không đứng dậy.
Ông Pó uống xong, nói, không nhìn tôi.
"Thầy Thiện bảo nó ngồi chờ. Nó ngồi chờ. Thầy ấy đi. Giờ thầy gọi tên nó rồi, nó tưởng thầy là người nó chờ. Thầy mà đi nữa thì nó chờ ai."
* * *
Đêm ấy tôi ra bậc cửa lúc bốn giờ. Tôi ngồi xuống cạnh chỗ khô, trên đá đóng sương muối, lạnh thấu qua quần.
Tôi nói với nó. Tôi nói em không chết trên đường. Em đến lớp rồi. Em đến trước tất cả. Em đánh kẻng rồi.
Tôi nói thầy Thiện bảo em ngồi chờ là nói dối. Không có ai đến đâu. Em không phải chờ nữa. Em về với mẹ đi.
Tôi nói đến lúc giọng tôi khản. Không có gì trả lời. Chỉ có sương, và cái lạnh, và cái chỗ khô bên cạnh tôi vẫn khô.
Rồi, không phải từ bậc cửa. Từ sau lưng tôi, trong lớp tối, từ phía bàn cuối.
"Thầy gọi tên em đi."