Chương 5: Bên kia dốc Sủi
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Chủ nhật, tôi sang Lũng Sủi.
Tôi không nói với ông Pó. Tôi đi từ sáu giờ, lúc sương còn đặc, theo con đường mòn bọn trẻ chỉ. Qua hết rẫy ngô đã bẻ, đường tụt xuống một cái thung toàn đá tai mèo, rồi ngược lên dốc Sủi. Dốc dài, đá lẫn đất đỏ, trơn như đổ mỡ. Giữa dốc có một cây sa mộc đứng một mình, gốc xếp mấy hòn đá thành một đống nhỏ. Tôi đứng lại ở đấy một lúc. Tôi không biết phải làm gì nên tôi chỉ đứng.
Lũng Sủi chỉ có ba nóc nhà. Nhà ông Vàng Chứ Dìn ở cuối, tường đất nứt, mái tranh thủng một mảng. Trước cửa có một đứa trẻ đang bổ củi bằng cái rìu to quá tay nó.
Là Chở.
Nó nhìn thấy tôi thì đứng im, rìu buông xuống. Rồi nó quay vào nhà gọi bố. Tôi đứng ở sân, hiểu ra một việc mà sáu tuần qua tôi không nghĩ tới. Chở là chị. Đứa trẻ chết rét ở dốc Sủi là em nó. Nó đi học hai tiếng đường mỗi sáng, một mình, qua đúng gốc sa mộc ấy.
* * *
Ông Dìn ngoài bốn mươi, gầy, mắt đỏ. Vợ chết năm 2003, ngã núi khi đi lấy củi. Từ đó ông uống. Hôm ấy ông chưa say, hoặc ông cố không say vì có thầy giáo đến.
Ông kể bằng tiếng Kinh lẫn tiếng Mông, Chở ngồi bên bếp dịch những chỗ tôi không hiểu. Nó dịch chậm, không nhìn tôi, tay cụt đưa que cời than.
Thằng Sính bảy tuổi. Nó theo chị đi học từ hồi sáu tuổi, thầy Thiện bảo chưa có giấy thì ngồi nhờ, bao giờ bố làm giấy thì vào sổ. Ông Dìn chưa làm. Xuống xã làm giấy mất một ngày đường, phải tỉnh rượu, phải có tiền đi xe ôm. Ông cứ để đấy.
"Nó thích đi học không phải vì học. Nó thích cái kẻng."
Ông Dìn nói, và lần đầu tiên tôi thấy ông cười, một cái cười rất ngắn.
Sính đi từ bốn giờ sáng để đến lớp trước tất cả. Nó cầm theo một thanh củi thông đốt làm đuốc. Đến nơi, nó đánh kẻng ba tiếng. Thầy Thiện ban đầu mắng, bảo bé thế cầm dùi to làm rơi vào chân. Nó về đẽo một cái dùi nhỏ bằng gỗ đào, vừa tay nó. Từ đó sáng nào kẻng Lủng Chá cũng do nó đánh.
"Đánh xong nó ngồi ở bậc cửa chờ thầy mở. Chờ các bạn đến. Chờ thầy điểm danh xong rồi nó thưa. Thầy không gọi tên nó, nó tự thưa. Cả lớp cười, nó cũng cười."
Tôi không nói gì. Trong bếp chỉ có tiếng than nổ.
* * *
Mùng sáu Tết năm ngoái, Chở sốt. Ông Dìn say từ đêm. Sính dậy một mình lúc trời chưa sáng, lấy thanh củi thông, đi.
"Nó không biết thầy chưa lên. Nhà này không ai sang báo."
Tôi hỏi lúc tìm thấy em, người ta thấy thế nào. Ông Dìn kể người ta thấy nó buổi trưa, nằm nghiêng, co, dưới gốc sa mộc giữa dốc. Mặt nó quay về phía Lũng Sủi. Chân không.
"Chân không ạ?"
"Nó đi đôi dép xanh tôi mua ở chợ phiên trước Tết. Dép mới. Lúc thấy thì chân nó trần. Tôi lên dốc tìm ba ngày. Không thấy dép."
Tôi ngồi im. Tôi thấy rõ trong đầu đôi dép nhựa xanh dưới gầm bàn cuối, hai chiếc để sát nhau, mũi quay vào trong, đế ướt. Tôi không nói. Tôi không biết nói ra thì tôi là người báo tin gì.
Chở ngẩng lên nhìn tôi. Nó nhìn lâu. Rồi nó cúi xuống cời than tiếp. Tôi hiểu là nó biết. Nó biết đôi dép ở đâu từ lâu rồi.
* * *
Lúc tôi về, ông Dìn vào buồng, lục một lúc, mang ra một vật bọc trong mảnh vải lanh.
Một khúc gỗ đào dài bằng gang tay, đẽo tròn, một đầu to hơn, mặt gỗ bóng vì tay cầm nhiều. Cái dùi của Sính.
"Thầy mang về treo ở gốc cây cho nó. Nó thích thế."
Tôi cầm lấy. Nó nhẹ, và lạnh hơn tôi tưởng, lạnh như để ngoài sương cả đêm dù vừa lấy từ trong buồng ra.
Chở đưa tôi một quãng, đến giữa dốc Sủi thì dừng. Nó đứng cạnh gốc sa mộc, cạnh đống đá nhỏ, không nhìn vào đó.
"Chỗ này."
Tôi gật. Tôi định nói một câu gì cho phải, nhưng Chở đã quay đi. Đi được mấy bước nó dừng, nói mà không quay lại.
"Thầy đừng mang dùi về lớp."
Tôi hỏi sao. Nó không trả lời, đi tiếp lên dốc, cái khăn đỏ bạc mất hút vào sương.
Tôi mang dùi về. Tôi không biết vì sao tôi làm thế. Có lẽ tôi nghĩ một đứa trẻ thích cái kẻng đến thế thì cái dùi của nó phải ở cạnh cái kẻng. Tôi treo nó lên cái đinh ở thân sa mộc, cạnh khúc gỗ nghiến, rồi vào lớp.
* * *
Gần bốn giờ sáng, kẻng.
Nhưng không phải tiếng đục, ngắn của gỗ nghiến. Tiếng này cao hơn, mảnh hơn, trong hơn. Tiếng của một khúc gỗ nhỏ, nhẹ, gõ vào sắt bằng một cánh tay không có nhiều sức.
Một. Hai. Ba.
Rồi tiếng cạch. Treo dùi lên đinh.
Rồi tiếng chân trần trên sân, đi về phía cửa. Dừng ở bậc. Và lần này, có tiếng ngồi xuống. Tiếng vải cọ vào đá. Một tiếng thở hắt ra rất nhỏ, như đứa trẻ vừa đi đường xa ngồi được xuống.
Nó ngồi đấy đến sáng. Tôi biết vì tôi cũng ngồi, bên trong, dựa lưng vào cánh cửa, cách nó một tấm ván.