☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng thưa thứ mười tám

Chương 6: Mèn mén ở bậc cửa

Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem

Đầu tháng Mười hai, rét về. Không phải cái rét dưới xuôi có áo bông là xong. Rét ở Lủng Chá đi vào qua tường đất, qua khe ván, qua chăn, nằm trong xương. Nước trong xô để qua đêm đóng một lớp váng cứng. Sáng ra bọn trẻ đến lớp môi tím, tay nứt toác, có đứa chân đất đứng trên nền đất mà không run, vì run cũng không ấm hơn.

Tôi nhóm bếp trong lớp từ năm giờ, hun khói cho ấm rồi mới đánh kẻng. Tôi xin phòng giáo dục thêm than. Người ta bảo chờ.

Từ hôm rét, mỗi sáng Chở đến sớm hơn những đứa khác. Nó đứng ở mép sân, chờ tôi mở cửa, rồi đi thẳng đến bậc cửa, cúi xuống đặt một nắm mèn mén bọc lá chuối vào góc bậc đá. Đặt rất gọn, đúng chỗ khô. Rồi nó vào ngồi.

Trưa tan học, nắm mèn mén không còn. Không có chó ở Lủng Chá dám lại gần điểm trường. Tôi đã thấy con chó nhà ông Pó đi ngang sân một lần, cụp đuôi, vòng thật xa.

* * *

Tôi giữ Chở lại sau buổi học. Tôi đưa nó bát mèn mén nóng của tôi, nó không ăn, chỉ cầm cho ấm tay.

Tôi hỏi nó có nhìn thấy em không.

"Không. Em chỉ biết nó ngồi đấy."

Tôi hỏi sao em biết.

Nó im một lúc. Rồi nó kể, bằng tiếng Kinh chậm, những chữ khó thì ngừng lại tìm.

Mùng sáu Tết năm ngoái nó sốt, nằm trong chăn. Nó nghe tiếng em dậy, lấy củi thông, mở cửa. Nó định gọi mà không gọi được. Đến trưa Sính không về. Bố vẫn say. Nó bò dậy đi tìm. Sương muối trắng cả dốc, nó không có găng, bám vào đá mà lên.

"Em thấy nó ở gốc cây. Nó nằm nghiêng, quay mặt về nhà. Chân không."

Tôi hỏi rồi sao.

"Em ngồi với nó đến lúc người ta lên. Tay em lạnh quá rồi em không biết nữa."

Nó đặt bát mèn mén xuống bàn, bàn tay cụt duỗi ra trên mặt gỗ.

"Thầy ơi. Nó không bao giờ đi dép lên lớp. Dép mới, nó sợ hỏng. Đến bậc cửa nó cởi ra, để sát nhau, mũi quay vào, rồi mới vào. Ngày nào cũng thế."

Tôi nhìn xuống gầm bàn, chỗ đôi dép xanh nằm.

"Nó cởi dép rồi. Nó đến lớp rồi. Em bảo ông Pó thế. Ông bảo em sốt, nói mê. Không ai hỏi em nữa."

Tôi không nói được câu nào. Tôi nghĩ đến đứa trẻ bảy tuổi đã đến nơi, đã cởi dép, rồi vì sao lại nằm giữa dốc. Tôi không nghĩ tiếp được. Trong đầu tôi có một cánh cửa đóng.

* * *

Hôm sau tôi hỏi Chở câu tôi đã nghĩ cả đêm. Em có muốn thầy gọi tên nó không.

Chở nhìn tôi rất lâu. Rồi nó gật. Rồi nó lắc. Rồi nó nói:

"Em không biết. Ông Pó bảo gọi thì nó ở lại. Nhưng nó ở lại rồi mà thầy."

Tôi đi gặp ông Pó lần nữa. Tôi nói tôi muốn ghi tên Sính vào sổ. Nó đã học ở lớp này năm tháng, nó phải có một dòng. Ông Pó không nổi giận. Ông chỉ mệt.

"Thầy dưới xuôi lên. Thầy không hiểu. Người chết rét ở ngoài đường thì phải về nhà, hồn nó mới đi được. Thầy gọi nó ở lớp, nó tưởng lớp là chỗ của nó. Nó không về."

Tôi nói nó đã không về từ lâu rồi, ông ạ. Nó ngồi ở bậc cửa mỗi sáng. Nó đánh kẻng mỗi đêm. Ông biết mà.

Ông Pó không trả lời. Ông nhìn ra ngoài cửa, về phía điểm trường khuất sau sương, và tôi thấy mặt ông lúc ấy giống mặt Chở hôm ở dốc Sủi. Mặt của người đang đứng cạnh một thứ mà không dám nhìn vào.

* * *

Tối hôm ấy tôi ngồi dưới ngọn đèn dầu, mở sổ điểm danh của tôi ra trang danh sách.

Tôi không viết bằng bút chì. Tôi không viết dưới gạch ngang. Tôi viết lên trên hàng thứ nhất, bằng mực xanh, chữ đứng, to hơn các tên khác một chút.

Vàng Mí Sính. Lớp một. Lũng Sủi.

Viết xong tôi ngồi nhìn dòng chữ. Tay tôi hơi run, không phải vì rét. Rồi tôi gập sổ, thổi đèn, nằm xuống, chờ tiếng kẻng.

Nó không đến.

Bốn giờ. Bốn giờ rưỡi. Năm giờ. Tôi nằm nghe từng tiếng gió qua khe ván. Không có kẻng. Không có tiếng cạch treo dùi. Không có tiếng chân trần trên sân, không có tiếng vải cọ vào đá bậc cửa.

Ba tháng tôi sợ tiếng kẻng. Đêm ấy tôi nằm chờ nó, và cái im lặng còn nặng hơn.

Tôi dậy sớm hơn mọi khi, nhóm bếp trong lớp, rồi mở cửa ra sân.

Sương muối phủ trắng sân, trắng gốc sa mộc, trắng cả vành bánh xe. Hai cái dùi treo trên đinh, phủ một lớp băng mỏng, không ai động vào.

Trên mặt ngoài cánh cửa lớp, ngang tầm đầu gối tôi, sương muối bị tan một khoảng. Một bàn tay. Bàn tay trẻ con, xoè, năm ngón, nhỏ bằng nửa bàn tay tôi. In rõ trên lớp băng trắng, như có ai đã đứng ngoài, đặt tay lên cánh cửa rất lâu, đủ lâu để một bàn tay lạnh như thế làm tan được băng.

Tôi đặt tay mình lên đó. Vừa khít vào trong lòng bàn tay tôi.

Tôi đứng như thế đến lúc nghe tiếng chân Chở từ phía dốc.