Chương 10: Chòi lá bên suối
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Xe cứu thương chở bà Hai Lành đi lúc gần một giờ trưa. Chú Thạch đi theo. Cô Ba Thu đứng ở cổng nhìn theo tới khi chiếc xe khuất dưới chân dốc, rồi quay lại, mắt đỏ.
Tôi múc cơm vào cái cà mèn của bà Hai. Cơm trắng, một khúc cá kho, mấy cọng rau muống luộc. Tôi bỏ thêm vào túi xách ba cuộn băng, một lọ cồn, một hộp bông, một vỉ hạ sốt, một cái đèn pin. Cô Ba Thu đứng ở cửa bếp nhìn tôi làm, không hỏi.
Lúc tôi xỏ ủng, cô mới lên tiếng.
"Cậu đi đâu thì đi, nhớ về trước tối. Rừng cao su tối mau lắm."
Tôi đi lúc ba giờ chiều. Trời tạnh sau cơn áp thấp, nhưng mây còn xám đặc, thấp tới mức như chạm đọt cây. Lối mòn sau dãy C dẫn vào rừng cao su, đi một quãng thì hết hàng cây trồng, bắt đầu rừng tạp, cây dầu, cây sao, dây leo.
Đường trơn trượt. Đất đỏ sau mưa dính vào đế ủng từng tảng, mỗi bước nặng thêm. Tôi nghe tiếng suối trước khi thấy nó, tiếng nước chảy xiết, đục ngầu.
Suối Lồ Ô sau mấy ngày mưa đã tràn bờ, nước đỏ quạch cuốn theo cành khô. Tôi đi dọc bờ về phía hạ lưu. Mấy bụi lồ ô mọc dày, thân cây gõ vào nhau khi gió thổi, kêu lộc cộc. Một con chim gì kêu thất thanh trong lùm rồi im.
Tôi đi gần một tiếng. Trời tối dần, nhanh hơn tôi tính. Tôi bắt đầu nghĩ mình lạc, thì thấy nó. Một cây dầu cổ thụ, thân to ba người ôm, ngọn bị cụt, đầu thân cháy đen như một cây nến lớn đã tắt.
Dưới gốc cây dầu không có chòi.
Tôi đi một vòng quanh gốc cây. Chỉ có lá mục, rễ cây trồi lên mặt đất như những con rắn ngủ. Nước suối đã liếm tới cách gốc cây vài bước chân. Tôi đứng đó, tim đập thình thịch, cái cà mèn trong tay lạnh dần.
Trời tối hẳn. Tôi bật đèn pin. Rừng tạp ban đêm khác rừng cao su. Không có hàng lối, không có khoảng trống, ánh đèn rọi tới đâu cũng chỉ thấy lá và thân cây chằng chịt. Tôi không tìm ra lối về.
Rồi tiếng côn trùng tắt.
Không phải ở bên tôi. Ở phía xa, phía hạ lưu, tiếng ếch nhái im dần, im dần, như một đường kẻ chậm rãi bò về phía tôi. Tới khi chỉ còn tiếng nước suối. Mùi dầu dừa thoảng tới, lẫn trong mùi đất ướt.
Cách tôi chừng hai mươi bước, giữa hai thân cây sao, có một người đàn bà đứng quay lưng. Áo bà ba nâu, khăn rằn. Bà không quay lại. Bà bắt đầu bước đi, chậm, về phía hạ lưu, men theo một con đường mà tôi không thấy.
Tôi đi theo. Tôi không nghĩ gì. Tôi chỉ đi theo cái lưng nhỏ đó, đi theo mùi dầu dừa, đèn pin rọi xuống chân để khỏi vấp rễ cây. Mỗi lần tôi ngẩng lên, bà vẫn cách tôi đúng chừng ấy bước. Bà không vướng cành, không vấp, mấy bụi lồ ô dạt ra trước mặt bà như có ai vén.
Tôi nghe tiếng chân mình, tiếng thở của mình. Không nghe tiếng chân bà.
Chúng tôi đi qua một khúc suối cạn, đá lởm chởm. Tôi trượt chân, té quỵ xuống, đầu gối đập vào đá, cái cà mèn văng khỏi tay. Tôi chộp được nó trước khi nó rơi xuống nước. Lúc tôi ngẩng lên, bà đã đứng lại, quay nửa mặt về phía tôi. Tôi thấy gò má cao, đôi mắt mệt. Bà chờ tôi.
Tôi đứng dậy, khập khiễng. Bà lại đi.
Qua khúc suối cạn là một bãi đất cao, lùm cây rậm che kín. Giữa lùm cây có một cái chòi.
Chòi nhỏ, vách đan bằng lồ ô chẻ, mái lợp lá trung quân đã mục đen, cửa là một tấm phên che hờ. Từ khe vách có ánh lửa đỏ hồng hắt ra, và mùi khói củi, đúng mùi khói tôi ngửi thấy qua cửa sổ phòng thuốc đêm đầu tiên.
Người đàn bà đi tới trước tấm phên, đứng đó. Rồi bà không còn ở đó nữa. Không có gì xảy ra. Chỉ là chỗ bà đứng giờ trống, và mùi dầu dừa vẫn còn.
Tôi đứng ngoài chòi rất lâu. Bên trong có tiếng củi nổ lách tách. Rồi tiếng ho, cũng tràng ho khàn đục tôi đã nghe vọng qua bãi cỏ đêm cúng, nhưng lần này gần, lần này ngay sau tấm phên lồ ô.
Tôi đặt cái cà mèn xuống đất. Tôi định đặt đó rồi về, như bà Hai Lành vẫn làm suốt bao năm. Nhưng tay tôi run, cái nắp nhôm va vào thân cà mèn, kêu leng keng một tiếng.
Tiếng ho trong chòi tắt. Im lặng. Rồi tiếng sột soạt, tiếng một người chống tay ngồi dậy trên nền lá khô, chậm chạp, khó nhọc.
Một giọng đàn ông vang lên, già, khàn, run run, hướng về phía tấm phên.
"Nhạn hả? Bà về đó hả?"