Chương 9: Gương mặt sau kính
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Ba đêm liền không ai tới cửa sổ. Ba buổi sáng liền, cuộn băng nằm nguyên trên bậu, ướt sương.
Lẽ ra tôi phải thấy nhẹ nhõm. Tôi không thấy vậy. Khu điều trị bỗng yên tới mức trống rỗng. Ban đêm tôi nằm nghe dế kêu không dứt, nghe tiếng ho của các cụ dãy A, nghe lá cao su va vào nhau, và chờ một khoảng im lặng không đến. Tôi nhận ra mình đã quen với người đứng ngoài tấm kính, như quen một người trực cùng ca.
Bà Hai Lành yếu đi trông thấy. Bà bỏ cơm, chỉ uống nước cháo. Sáng nào tôi tới đo huyết áp, bà cũng hỏi tôi một câu.
"Đêm qua nó có tới không cậu?"
Tôi lắc đầu. Bà nhắm mắt, môi mím lại. Có lần bà hỏi thêm, giọng nhỏ tới mức tôi phải cúi sát.
"Mấy bữa nay mưa không?"
Tôi nói không mưa. Bà gật đầu, như được an ủi chút đỉnh.
Đêm thứ tư thì mưa. Chiều đó radio của ông Bảy báo có áp thấp nhiệt đới, mưa lớn khắp Đông Nam Bộ. Trời tối sầm từ năm giờ. Gió quật hàng cao su nghiêng ngả, tôn trên mái dãy B kêu rầm rầm như có người chạy trên đầu. Máy phát ngập nước, tắt từ tám giờ.
Tôi đặt cuộn băng ra bậu, lấy thêm một lọ thuốc đỏ, một vỉ ký ninh, đặt cạnh. Tôi không biết vì sao tôi làm vậy. Có lẽ vì cuốn sổ phát thuốc năm tám mốt.
Tôi ngủ trong phòng trực, cửa thông qua phòng thuốc để mở. Tôi tỉnh dậy không phải vì lạnh, cũng không vì tiếng dế im. Tôi tỉnh vì mùi dầu dừa, đặc, ngọt, ở ngay trong phòng.
Cây đèn dầu trên bàn tôi để vặn nhỏ, ngọn lửa đứng im như vẽ, dù gió đang rít qua mọi khe cửa.
Tôi chống tay ngồi dậy, nhìn qua cửa thông. Trong phòng thuốc, trước cái tủ đứng có chữ K, có một người đàn bà đang đứng quay lưng về phía tôi.
Bà mặc áo bà ba nâu sậm, quần đen, đầu quấn khăn rằn. Dáng nhỏ, vai xuôi. Tay bà đặt lên cánh tủ, nhẹ như sợ làm động. Cửa sổ sau lưng bà vẫn đóng, chốt cài, và trên mặt trong tấm kính, phía trong phòng, hơi nước đọng thành một mảng mờ hình bàn tay xòe năm ngón.
Tôi bước tới khung cửa thông. Bà quay lại.
Đó là một gương mặt bình thường. Tôi đã chuẩn bị cho mọi thứ, nhưng không chuẩn bị cho một gương mặt bình thường như vậy. Một người đàn bà chừng năm mươi, má hóp, gò má cao, đôi mắt mệt mỏi. Nước da xanh tái. Miệng bà mím lại như người sắp mở lời nhờ vả mà ngại.
Không có giọt nước nào trên người bà. Ngoài kia trời đổ mưa như trút.
"Cậu ơi," bà nói. Lần này không qua lớp kính, giọng bà rõ, khàn, giọng người Lái Thiêu nói chậm. "Ổng đau chân lắm. Mưa vầy, dưới suối lạnh lắm. Ổng không lên được."
Tôi không nhớ mình có trả lời không. Tôi nhớ tay mình tự mở hộc tủ, lấy ra ba cuộn băng, một lọ cồn, một gói bông. Tôi đưa ra. Bà đưa hai tay đón. Đầu ngón tay bà chạm vào mu bàn tay tôi.
Lạnh. Không như đá. Như nước suối buổi sớm, cái lạnh thấm, rồi đọng lại.
"Cám ơn cậu," bà nói. "Tui hết tiền rồi. Để bữa khác tui trả."
Ngọn đèn dầu trên bàn phía sau tôi phụt tắt.
Khi tôi bật được đèn pin, phòng thuốc trống không. Cửa sổ vẫn chốt. Mảng hơi nước hình bàn tay trên kính đang mờ dần từ mép vào, như có ai thở dài lên nó lần cuối.
Sáng hôm sau, bà Hai Lành sốt cao trở lại. Chú Thạch lên bằng chiếc Dream lội bùn, khám xong thì lắc đầu, nói phải đưa xuống bệnh viện huyện, viêm phổi. Chú gọi xe cứu thương, chờ tới trưa xe mới lên được vì đường lở.
Trong lúc chờ, bà Hai Lành kêu tôi tới bên giường. Bà ra hiệu cho tôi mở cái rương gỗ nhỏ dưới gầm. Trong rương, dưới mấy bộ đồ bà ba xếp vuông, có một gói vải điều. Bà mở ra bằng những ngón tay run.
Một tấm ảnh đen trắng cỡ bàn tay, giấy ngả vàng, mép răng cưa. Hơn hai chục người đứng trước gốc mít ngoài sân, phía sau là dãy nhà lá. Có người ôm trẻ con, có người cầm đàn. Phía dưới ai đó viết bằng bút bi: Tết Nhâm Tý 1972.
Bà Hai Lành chỉ vào một người đàn bà đứng ở hàng giữa. Áo bà ba, đầu quấn khăn, má hóp, đôi mắt hơi xếch.
"Con Nhạn."
Tôi không cần nhìn lâu. Trong ảnh bà trẻ hơn chừng mười năm, nhưng tôi đã nhìn gương mặt đó cách đây mười tiếng, trong phòng thuốc, gần tới mức thấy được nếp nhăn ở đuôi mắt.
Đứng sát bên bà Tư là một người đàn ông cao gầy, lưng hơi gù, tóc cắt ngắn, hai tay chắp sau lưng. Bà Hai Lành không cần chỉ.
Rồi bà mở tiếp một gói nhỏ hơn trong gói vải điều. Mười mấy tờ tiền cũ, tờ nào cũng gấp hình tam giác, góc miết thẳng.
"Nó xếp tiền vậy đó. Hồi xưa nó đưa tui giữ. Nó nói để dành mua thuốc cho ổng. Nó đi rồi, tui giữ hoài."
Ngoài sân, tiếng còi xe cứu thương vọng lên từ chân dốc. Bà Hai Lành chộp lấy cổ tay tôi, bấu chặt, sức mạnh tới mức tôi không ngờ.
"Cậu nghe tui. Suối Lồ Ô, đi xuống phía hạ, có cây dầu lớn bị sét đánh cụt ngọn. Dưới đó có cái chòi lá. Cậu đem cái cà mèn này xuống. Chiều nay. Cậu đừng nói ai."
Tôi hỏi đem cho ai. Bà nhìn thẳng vào mắt tôi.
"Đừng kêu tên ổng. Cậu kêu tên, ổng chạy đó."