☾ Truyện Ma Có Thật
← Cuộn băng trên bậu cửa sổ

Chương 3: Chuyện ông Sáu Khuê

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Chiều hôm đó mưa sớm. Các cụ dồn vô hiên dãy A, kéo ghế đẩu ngồi quanh cái bếp than nhỏ ông Bảy Đờn nhóm để nấu nước trà. Tôi bưng hai tờ tiền ra, đặt lên cái mâm nhôm giữa đám đông. Không ai đụng vào.

Ông Bảy kể. Ông kể chậm, lâu lâu dừng lại gảy một tiếng đàn, như người kể chuyện đã quen có nhạc lót.

Ông Sáu Khuê tên thật là Trần Văn Khuê, quê Bến Cát, vô trại năm sáu mươi hai, cùng đợt với ông Bảy. Hồi đó trại còn đông, cả trăm người, cất nhà lá, sau mới lên nhà tôn. Ông Sáu làm thợ mộc trước khi bệnh, nên giường, bàn, ghế, cả cái tủ thuốc trong phòng tôi đều qua tay ông.

"Cái tủ đứng của cậu đó," ông Bảy hất cằm về phía dãy B. "Mở ra coi, mặt trong cánh cửa có khắc chữ K. Ổng làm cái gì cũng khắc chữ K, nhỏ xíu, phải kiếm mới thấy."

Năm sáu lăm, ông Sáu cưới bà Tư Nhạn, cũng là người bệnh trong trại. Đám cưới làm ngay dưới gốc mít ngoài sân, ông cha xứ dưới Bình Long lên làm phép, cả trại góp gạo nấu xôi. Hai người có hai đứa con. Hồi đó con sinh trong trại đều phải gửi ra ngoài nuôi, sợ lây, mà cũng sợ người ta biết. Hai đứa con ông Sáu gửi về cho ông anh ruột ở Bến Cát.

"Rồi năm tám mươi," ông Bảy nói, "ông anh lên."

Ông anh tên Bền. Ông Bảy nhớ ông Bền đứng ngoài cổng, không chịu bước vô, nói chuyện với ông Sáu qua hàng rào kẽm gai. Nói cái gì thì không ai nghe. Chỉ biết tối đó ông Sáu ngồi một mình ngoài gốc mít tới khuya, sáng ra thì mất.

Người trong trại đi kiếm ba ngày. Tới ngày thứ ba, có người thấy cái áo bà ba đen của ông Sáu mắc trên cành cây bên suối Lồ Ô, cách trại chừng hai cây số. Mùa đó nước suối lên cao. Người ta nói ông trượt chân, hoặc ông tự đi. Không ai tìm được xác.

"Qua năm sau, xã gửi giấy lên báo tử. Ông anh làm giấy ở dưới quê. Vậy là xong."

Bà Năm Huệ chặc lưỡi.

"Ổng thương con. Con lớn rồi, đi học, đi làm, có cha nằm trong trại phong thì ai gả cưới. Ổng đi là phải."

Tôi hỏi còn bà Tư. Ông Bảy gảy một tiếng đàn rất dài.

"Bả ở lại. Bả mất năm tám lăm. Sốt rét. Mộ ở nghĩa địa sau đồi đó."

Tôi hỏi tại sao các cụ nghĩ người đứng ngoài cửa sổ là ông Sáu.

Ông Tám Cò, còn đắp khăn trên trán, chen vào. Mùa mưa nào cũng có người thấy ông Sáu. Năm tám bảy, một y tá trực đêm thấy có người đứng ngoài cửa sổ phòng thuốc, sáng ra mất mấy gói thuốc ký ninh. Năm chín mốt, ông Tám đi tiểu đêm, thấy bóng người đứng dưới gốc cao su sau dãy C, cái dáng gù gù y như ông Sáu. Ai cũng nói ông Sáu chết không xác, hồn còn lẩn quẩn quanh trại, không về quê được vì giấy tờ đã khai là chết ở đây.

"Tiền đó là tiền đời ổng," ông Tám nói. "Chết rồi thì người ta xài tiền đời mình."

Mấy cụ gật gù. Có người lẩm bẩm phải cúng. Chỉ có bà Hai Lành từ đầu tới cuối không nói một tiếng. Bà ngồi sát mép hiên, hai tay ôm cái cà mèn. Lúc ông Bảy kể tới chuyện cái áo bà ba trên cành cây, tôi thấy bà quay mặt đi, nhìn ra màn mưa.

Câu chuyện vừa dứt, bà đứng dậy, chống gậy đi về phòng. Không ai giữ bà lại.

Tối đó, trước khi máy phát tắt, tôi mở cái tủ đứng trong phòng trực. Mặt trong cánh tủ bên trái, sát bản lề dưới, có một chữ K khắc bằng mũi đục, nhỏ bằng hạt bắp, đã đen bóng vì tay người sờ.

Tôi ngồi nhìn chữ K đó lâu lắm. Tôi nghĩ tới một người thợ mộc ba mươi mấy năm trước, ngồi đục cái tủ này trong chính khu này, khắc tên mình vào chỗ không ai thấy.

Sáng hôm sau trời tạnh. Tôi lấy cớ đi kiểm tra đường ống nước, đi một vòng ra sau dãy B, rồi bước qua bãi cỏ tới dãy C.

Dãy C dài, mái tôn rỉ đỏ, tường vôi loang lổ những mảng rêu xanh đen. Cửa trước khóa bằng một ổ khóa Tiệp to bằng nắm tay, rỉ sét tới mức tôi nghĩ có chìa cũng không mở nổi. Cửa sổ đóng ván. Dây bìm bìm bò kín tới mái.

Tôi đi vòng ra phía sau, phía giáp rừng cao su. Cửa sau dãy C là hai cánh gỗ khép hờ. Cỏ trước bậc cửa sau không cao như phía trước. Có một lối mòn nhỏ, rộng chừng một bàn chân, chạy từ bậc cửa vào hàng cao su.

Trên mái hiên ngay trên cửa sau, có một vệt đen kéo dài như ai lấy tay quẹt than lên. Vệt khói. Không phải vệt khói cũ. Mấy tấm tôn khác rỉ đỏ, riêng chỗ đó đen bóng, và khi tôi đưa ngón tay lên chạm vào mép tôn, đầu ngón tay dính một lớp muội mịn, còn hơi ấm.

Tôi rụt tay lại. Dưới chân bậc cửa sau, trong một kẽ gạch, có một nhúm tro trắng.

Con Vện đi theo tôi ra tới đó. Nó dừng ở mép bãi cỏ, không chịu bước tới. Nó gầm gừ nhỏ trong cổ, mắt nhìn chằm chằm vào khe hở giữa hai cánh cửa gỗ.

Tôi đứng cách cửa chừng hai bước. Bên trong tối om. Tôi định đẩy cửa, rồi lại thôi.

Từ trong bóng tối đó, rất khẽ, có tiếng một cái nắp nhôm rơi xuống nền gạch, lăn một vòng, rồi im.