Chương 5: Cuốn sổ phát thuốc
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Kho của dãy B nằm sát bếp, cửa sắt kéo, bên trong chất bao gạo, thùng mì, can dầu lửa, và ở góc trong cùng là ba cái thùng gỗ đựng giấy tờ cũ. Cô Ba Thu nói giấy tờ từ hồi trại còn đông, trên huyện bảo giữ, mà giữ thì chẳng ai coi.
Sáng thứ Hai tôi xin cô chìa khóa kho, nói kiểm lại số thuốc. Cô đưa, nhìn tôi một cái, biết thừa tôi kiếm cái gì.
Mấy thùng gỗ ẩm mục, giấy bên trong ngả màu trà, dính vào nhau từng xấp. Mùi giấy mốc trộn mùi long não xộc lên làm tôi hắt hơi liên tục. Tôi bê từng xấp ra bàn ngoài hiên, phơi dưới nắng, lật từng trang bằng đầu kẹp gắp.
Tới trưa tôi tìm được hồ sơ ông Sáu. Một tờ bìa cứng màu xanh đã bạc, ghi bằng mực tím: Trần Văn Khuê, sinh năm 1928, quê xã An Điền, huyện Bến Cát. Vào trại tháng Ba năm 1962. Nghề nghiệp trước khi vào: thợ mộc. Bên dưới là mấy dòng điều trị, toa thuốc qua từng năm, chữ viết của nhiều người khác nhau.
Dòng cuối ghi bằng mực xanh, chữ khác hẳn: "Bệnh nhân bỏ trại ngày 17 tháng 4 năm 1980. Đã tìm kiếm, không thấy." Kẹp sau tờ bìa là một mảnh giấy pơ-luya mỏng, bản sao giấy báo tử của Ủy ban xã An Điền, đề tháng Hai năm 1981. Người khai là Trần Văn Bền, anh ruột.
Hồ sơ bà Tư nằm ngay dưới. Lê Thị Nhạn, sinh năm 1934, quê Lái Thiêu. Vào trại năm 1958. Kết hôn năm 1965 với bệnh nhân Trần Văn Khuê. Con: Trần Thị Hồng, sinh 1966, Trần Văn Hòa, sinh 1967, gửi ra ngoài nuôi. Bà khỏi bệnh từ năm 1974, có giấy cho về, nhưng ghi chú bên cạnh là "bệnh nhân xin ở lại".
Dòng cuối trong hồ sơ bà Tư ghi bà mất ngày 14 tháng 9 năm 1985, sốt rét ác tính. Phía trên là mấy dòng của y tá trực những năm tám mốt, tám hai, chữ nghiêng, nét vội.
"Bệnh nhân đi rừng ban đêm nhiều lần, đã nhắc nhở, không nghe."
"Bệnh nhân lại đi rừng, về ướt hết, sốt."
Tôi đọc dòng đó mấy lần. Một người đàn bà đã khỏi bệnh, có giấy cho về, chọn ở lại. Rồi chồng chết, bà đêm đêm đi rừng.
Chiều đó tôi lục thêm thùng thứ ba, toàn sổ sách phòng thuốc. Có một cuốn sổ phát thuốc bìa cứng đen, gáy sờn, ghi từ năm 1981 tới năm 1986. Mỗi trang kẻ cột: ngày, tên bệnh nhân, thuốc, số lượng, người phát.
Tên Lê Thị Nhạn xuất hiện rất nhiều. Tuần nào cũng có. Mà thứ bà xin không phải thuốc của bà.
"Băng cuộn: hai cuộn. Bệnh nhân trả tiền."
"Băng cuộn: hai cuộn. Thuốc đỏ: một lọ. Bệnh nhân trả tiền."
"Băng cuộn: ba cuộn. Ký ninh: mười viên. Bệnh nhân trả tiền. Bệnh nhân không có vết thương."
Ở cột ghi chú, ai đó gạch một đường dưới chữ "không có vết thương". Hồi đó băng gạc khan hiếm, phát theo tiêu chuẩn từng người. Bà Tư không có vết thương nào cần băng, nên bà mua. Tuần nào cũng mua, bằng tiền của bà.
Tôi đem cuốn sổ ra hỏi cô Ba Thu. Cô về khu năm tám tám, sau khi bà Tư mất ba năm, nhưng cô nghe người cũ kể. Cô lật mấy trang, thở dài.
"Hồi đó người ta nói bả thương chồng quá, hóa lẩn thẩn. Ông Sáu chết không có xác, bả không chịu. Bả mua băng, mua thuốc, đem ra suối Lồ Ô. Có người nói thấy bả ngồi bên suối, nói chuyện một mình."
"Đem ra suối làm gì, cô?"
"Ai biết. Cúng. Thả xuống nước cho ổng. Người buồn thì làm đủ thứ."
Cô gấp cuốn sổ lại, đặt lên bàn.
"Cái bà Hai Lành ở chung phòng với bà Tư hồi đó đó. Hai bả thân lắm. Bà Tư mất, bà Hai khóc cả tháng."
Tối đó, tôi ngồi một mình trong phòng trực với cuốn sổ. Tôi nghĩ tới bà Hai Lành. Bà già nhỏ thó, chiều nào cũng ôm cà mèn, xin thêm vá cơm cho con gà không có. Bà biết chuyện bà Tư rõ hơn ai hết. Bà là người duy nhất không chịu nghe ông Bảy kể chuyện ông Sáu. Bà đứng nhìn tôi đóng cửa dãy C.
Và tôi nhớ mùi dầu dừa. Các cụ bà trong khu, ai cũng còn giữ thói quen xức dầu dừa lên tóc, chai dầu để cạnh gối.
Tôi ngồi đó và tự dựng lên một câu chuyện. Bà Hai Lành thương bạn, thương cái chuyện cũ, đêm đêm ra đứng ngoài cửa sổ phòng thuốc như bà Tư năm xưa, xin cuộn băng, để lại mấy tờ tiền bà Tư cất giữ. Rồi bà đem cuộn băng ra dãy C, đốt cho người đã chết, như cúng. Vệt khói trên mái là khói giấy tiền. Hàng đinh trên bậc cửa là một bà già nhổ từng cây, chậm rãi, suốt đêm.
Câu chuyện đó có nhiều chỗ hở. Một bà cụ tám mươi chống gậy làm sao nhổ mười tám cây đinh. Nhưng nó là câu chuyện duy nhất tôi có mà không cần đến ma.
Tôi quyết định đêm nay sẽ ngồi canh.
Chín giờ tối, trước khi tắt máy phát, tôi đi một vòng dãy A như thường lệ. Tới phòng bà Hai Lành, cửa khép hờ. Tôi gõ nhẹ khung cửa, không ai trả lời. Tôi đẩy cửa, rọi đèn pin.
Bà Hai Lành nằm co trên giường, đắp hai lớp mền dù trời không lạnh. Bà run bần bật. Tôi đặt tay lên trán bà. Trán bà nóng hổi như cục than.
Bà mở mắt, nhìn tôi. Ánh mắt bà mờ đục, không nhận ra ai. Môi bà mấp máy.
"Mưa rồi... đừng đi... mưa rồi..."
Ngoài kia, trời quang, không có giọt mưa nào.