☾ Truyện Ma Có Thật
← Cuộn băng trên bậu cửa sổ

Chương 7: Chiếc xe gỗ nhỏ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Đêm đó bà Hai Lành chỉ nói với tôi đúng mấy câu. Tôi cắm lại kim truyền cho bà, bà để yên, mắt nhìn trần nhà.

"Con Nhạn. Nó đi xin thuốc. Hồi đó nó cũng đứng chỗ đó, cũng xin vậy đó."

Tôi hỏi xin cho ai. Bà nhắm mắt lại.

"Cậu đừng hỏi. Cậu cứ để băng cho nó. Tui xin cậu."

Rồi bà quay mặt vào vách. Tới sáng bà hết sốt, đòi về phòng, tự chống gậy đi, không cho ai dìu.

Tôi ngồi lại với ba tờ tiền khô và cái câu "cho ổng". Bà Tư chết năm tám lăm. Ông Sáu chết năm tám mươi. Đêm đêm người vợ đã chết đi xin băng cho người chồng đã chết, như hồi còn sống. Trong dãy C có lửa, vì ông Sáu ở đó.

Tôi nghĩ vậy, và lạ là nghĩ vậy rồi tôi bớt sợ. Hai người đó không làm hại ai. Họ chỉ không đi được.

Tôi xin cô Ba Thu nghỉ trực một ngày, nhờ ông Bảy coi giùm đêm. Sáng Chủ nhật tôi đón xe đò xuống Bến Cát.

Xã An Điền cách khu gần trăm cây số. Ủy ban xã là một dãy nhà cấp bốn quét vôi vàng. Anh cán bộ tư pháp trẻ, đang ăn sáng, nghe tôi trình bày thì lôi ra mấy cuốn sổ hộ tịch cũ, phủi bụi. Tìm một hồi, anh lấy ngón tay gõ vào một dòng.

"Đây. Trần Văn Khuê, chết tháng Tư năm tám mươi, nơi chết: trại phong Bàu Sến. Người khai: Trần Văn Bền. Không có giấy của trại, chỉ có lời khai với hai người làm chứng. Hồi đó người ta làm vậy nhiều."

Anh chỉ tôi nhà ông Bền. Ông Bền mất năm chín chín. Vợ ông, bà Bền, ngoài bảy mươi, ở một căn nhà ngói giữa vườn măng cụt. Nghe tôi nói tôi làm ở Bàu Sến, bà khựng lại, nhìn quanh như sợ hàng xóm nghe, rồi mới mời tôi vô.

Trên bàn thờ nhà bà có một tấm ảnh ông Bền, và bên cạnh là một bát nhang nhỏ không có ảnh.

"Chú Sáu," bà nói. "Không có hình. Hồi đó đâu có ai chụp hình người trên trại."

Bà kể ông Bền lên trại năm tám mươi, về nhà ngồi khóc một đêm. Hai đứa nhỏ, con Hồng mười bốn, thằng Hòa mười ba, đứa nào cũng sắp lên cấp ba, cấp ba thì phải làm lý lịch. Ông Bền lên để xin em mình một chuyện. Ông không kể là chuyện gì. Mấy tháng sau thì có tin chú Sáu chết.

"Hai đứa nó lớn rồi, có gia đình rồi. Con Hồng bán tạp hóa trên Thủ Dầu Một. Thằng Hòa lái xe chở mủ cho nông trường. Tụi nó biết cha nó chết trên trại, có vậy thôi. Tụi nó không lên. Tui cũng không cho lên."

Tôi hỏi về bà Tư. Bà Bền thở dài.

"Thím Tư thì năm nào Tết cũng gửi đồ xuống. Gửi theo xe đò, có khi theo người buôn bán. Mấy món đồ chơi bằng gỗ, con gà, con trâu, cái xe. Tụi nhỏ lớn rồi mà năm nào cũng gửi. Thím mất rồi, tui tưởng hết."

Bà đứng dậy, mở cái tủ kính ở góc nhà, lấy ra một món đồ, đặt vào tay tôi.

Đó là một chiếc xe ben nhỏ bằng gỗ, dài chừng một gang tay, có thùng xe nâng hạ được, bốn bánh xe là bốn khoanh gỗ tròn xỏ trục tre. Gỗ còn sáng màu, mùi dầu bóng còn mới.

"Cái này năm ngoái. Gửi cho thằng Bin, con thằng Hòa, tròn năm tuổi. Ai gửi tui cũng không biết. Thằng lơ xe đò nói có bà già trên Bàu Sến gửi."

Tôi lật chiếc xe lại. Dưới gầm, sát trục bánh sau, có một chữ K khắc bằng mũi đục, nhỏ bằng hạt bắp.

Tôi không biết mình đã ngồi im bao lâu. Bà Bền nhìn tôi, rồi nhìn chiếc xe, rồi hỏi tôi có sao không. Tôi nói không sao. Tôi xin phép mượn chiếc xe, hứa sẽ gửi lại. Bà gật đầu, không hỏi vì sao.

Trên chuyến xe đò ngược lên Bình Long, tôi cầm chiếc xe gỗ trong tay suốt dọc đường. Tôi nghĩ tới bà Hai Lành. Bà già tám mươi, mắt mờ, tay run. Bà có thể gửi đồ theo xe đò. Nhưng bà không thể đục được chữ K nhỏ như vậy, gọn như vậy. Tôi lại nghĩ tới hàng đinh xếp thẳng trên bậc cửa dãy C.

Về tới khu thì trời đã tối. Hiên dãy A sáng đèn, các cụ ngồi đông đủ. Ông Bảy Đờn bày trên cái bàn tre một đĩa trái cây, ba cây nhang, một chén nước, một tờ giấy ghi tên.

"Tụi tui tính rồi," ông nói. "Cúng cho ổng một lễ. Gọi tên ổng, chỉ đường ổng về quê. Ổng lang thang vậy hoài tội nghiệp."

Bà Hai Lành từ trong phòng đi ra. Bà đi nhanh hơn tôi từng thấy, cây gậy gõ xuống nền xi măng từng tiếng. Bà đứng chắn trước cái bàn tre.

"Không được cúng."

Ông Bảy ngạc nhiên. "Chị Hai, cúng cho ổng siêu thoát mà."

"Tui nói không được." Giọng bà run, nhưng không nhỏ. "Đừng có gọi tên ổng. Gọi tên vậy là kêu ổng đi đó. Tui xin mấy người."

Không ai hiểu bà nói gì. Mấy cụ nhìn nhau. Ông Bảy cầm tờ giấy ghi tên, lưỡng lự. Rồi ông Tám Cò lên tiếng, bà Hai già rồi lẩn thẩn, cúng là việc tốt. Ông Bảy thắp nhang.

Bà Hai Lành không ngăn nữa. Bà đứng đó, hai tay bấu vào đầu gậy, nước mắt chảy xuống hai bên mép.

Ông Bảy cầm nhang vái ba vái về phía dãy C, đọc to.

"Trần Văn Khuê, sinh năm Mậu Thìn, quê An Điền, Bến Cát. Ông có linh thì về nhận..."

Từ phía sau dãy B, vọng qua bãi cỏ, có tiếng ho. Một tràng ho dài, khàn đục, của đàn ông, rõ ràng như người đứng bên kia sân. Rồi tắt ngang, như bị ai bịt miệng lại.

Không ai cử động. Ba cây nhang trong tay ông Bảy cháy dở, tàn rơi xuống mu bàn tay ông mà ông không hay.