Chương 8: Cái mùng cuối dãy
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Lễ cúng bỏ dở. Ông Bảy cắm ba cây nhang vào chén gạo rồi ngồi thụp xuống ghế, tay xoa mu bàn tay bị tàn nhang làm phỏng. Các cụ lục tục về phòng, không ai nói với ai câu nào. Bà Hai Lành đi sau cùng. Lúc ngang qua tôi, bà dừng lại một chút, như muốn nói, rồi thôi.
Tôi về phòng trực. Tôi đặt chiếc xe gỗ lên bàn, cạnh xấp tiền gấp tam giác. Hai thứ nằm cạnh nhau dưới ánh đèn bóng tròn: tiền của người chết năm tám lăm, và món đồ chơi khắc năm ngoái.
Tôi nghĩ tới tiếng ho. Ma không ho. Tôi nói câu đó thành tiếng trong phòng trống, rồi thấy mình vô lý. Tôi đâu biết ma có ho hay không.
Máy phát tắt. Tôi không chờ được nữa. Tôi lấy cây đèn pin lớn, thay hai cục pin mới, xỏ đôi ủng cao su, đi ra sau dãy B.
Ông Bảy Đờn đang đứng ở góc hiên dãy A hút thuốc, đốm lửa đỏ lập lòe. Thấy tôi, ông dụi điếu thuốc, đi theo. Ông không hỏi tôi đi đâu.
Trời không mưa, nhưng sương xuống dày, ánh đèn pin rọi ra chỉ thấy một khối trắng đục. Con Vện chạy theo được nửa bãi cỏ thì dừng, ngồi xuống, rên ư ử trong cổ.
Tới cửa sau dãy C, ông Bảy đứng lại.
"Tui đứng đây. Tui già rồi, cậu. Có gì cậu kêu."
Hai cánh cửa gỗ vẫn khép hờ. Tôi đẩy. Bản lề rít một tiếng dài.
Bên trong là một dãy phòng bệnh dài, thông suốt, vách ngăn đã sập gần hết. Đèn pin quét qua từng hàng giường sắt rỉ sét, khung giường trơ trụi, có cái gãy chân nằm nghiêng. Mạng nhện giăng từ thanh giường lên tới xà nhà. Nền gạch tàu phủ một lớp lá khô và phân dơi. Mùi ẩm mốc, mùi gỉ sắt.
Nhưng có một lối đi. Giữa lớp lá khô có một đường quét sạch, rộng chừng một sải tay, chạy từ cửa sau vào sâu bên trong. Tôi đi theo lối đó.
Cuối dãy, ở góc trong cùng, khác hẳn. Nền gạch được quét sạch tới mức thấy cả màu đỏ của gạch. Ba cục gạch kê làm bếp, tro còn ấm, trên bếp là một cái lon guigoz nhôm cũ đen bóng khói. Bên cạnh là cái cà mèn của bà Hai Lành, rửa sạch, úp ngược. Một cái chiếu cói trải trên giường sắt. Và trên giường, một cái mùng màu cháo lòng buông kín bốn góc.
Tôi rọi đèn vào cái mùng. Bên trong có một hình người nằm nghiêng, co chân, quay lưng ra ngoài. Không động đậy.
Cạnh chân giường, trên một cái ghế đẩu, là mấy cuộn băng gạc của tôi. Ba cuộn còn nguyên giấy bọc. Hai cuộn đã mở. Bên cạnh là một con dao nhỏ, một cái đục, một nắm vỏ bào gỗ còn thơm mùi nhựa.
Tôi đứng đó, đèn pin trong tay run làm vệt sáng nhảy múa trên cái mùng. Tôi muốn gọi. Tôi muốn gọi tên ông. Nhưng tôi nhớ bà Hai Lành nói gọi tên là kêu người ta đi.
Tôi bước thêm một bước. Một tiếng thở rất khẽ từ trong mùng. Khò khè, chậm.
Ngay lúc đó, sau lưng tôi, sát vai tôi, có tiếng thì thào.
"Để ổng ngủ, cậu."
Tôi không quay lại. Tôi không quay lại được. Hơi lạnh từ sau gáy chạy xuống tới thắt lưng, như ai đổ một gáo nước giếng. Mùi dầu dừa đặc quánh. Đèn pin trong tay tôi chớp một cái, rồi tắt ngấm, dù pin mới thay.
Trong bóng tối hoàn toàn, tôi nghe tiếng thở trong mùng vẫn đều. Tiếng thì thào lại vang lên, lần này dịu hơn, gần như năn nỉ.
"Ổng mệt lắm. Cậu về đi."
Tôi lùi ra. Tôi không biết mình đi bằng lối nào, vấp vào những thanh giường sắt bao nhiêu lần. Tới khi tôi thấy cái khung cửa sau xám mờ trong sương, và bóng ông Bảy đứng ngay đó, tôi mới thở ra được.
Ông Bảy nắm cánh tay tôi. Tay ông lạnh ngắt.
"Gì vậy cậu? Mặt cậu trắng bệch."
Tôi chỉ nói được một câu: có người nằm trong đó.
Sáng hôm sau, tôi trở lại dãy C với ông Bảy, cô Ba Thu, và con Vện. Trời nắng gắt, mây trắng trôi trên đọt cao su.
Góc cuối dãy trống trơn.
Không mùng. Không chiếu. Ba cục gạch kê bếp vẫn còn, nhưng tro đã nguội lạnh, và ai đó đã lấy nước dội cho tắt hẳn. Cái lon guigoz không còn. Mấy cuộn băng gạc không còn. Vỏ bào được quét sạch. Chỉ còn đường quét trên nền gạch đỏ, và một vệt khói cũ trên vách.
Cô Ba Thu nhìn quanh, nói nhỏ, đúng là có người ở. Ông Bảy không nói gì. Con Vện đánh hơi khắp góc phòng, rồi chạy thẳng ra cửa sau, sủa một tràng về phía rừng cao su, về hướng suối Lồ Ô.
Cái cà mèn của bà Hai Lành vẫn nằm đó, úp ngược trên nền gạch. Tôi nhặt lên, đem về trả cho bà.
Bà Hai Lành cầm cái cà mèn, nhìn tôi, không hỏi tôi lấy ở đâu. Bà biết.
Đêm đó tôi đặt cuộn băng trên bậu cửa sổ như mọi đêm. Tôi thức tới sáng. Dế kêu suốt đêm, không lúc nào im. Không có mùi dầu dừa. Không ai đứng ngoài tấm kính.
Sáng ra, cuộn băng vẫn nằm trên bậu, ướt đẫm sương, giấy bọc nhũn ra. Lần đầu tiên không ai lấy nó.