Chương 7: Tờ giấy trên tường
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng mồng hai Tết dương lịch năm 1973, tôi đi bộ ra trụ sở tiểu khu ở đầu phố. Trụ sở là một ngôi nhà hai tầng cũ, mất cửa kính, tường loang lổ vết mảnh bom. Trước cửa người ta đứng chật, đàn ông, đàn bà, người già, ai cũng ngước lên nhìn bức tường bên phải.
Trên tường dán mấy tờ giấy pơ-luya, chữ viết tay bằng mực tím, nhòe vì sương. Giấy dán chồng lên nhau, tờ mới đè tờ cũ, mép giấy quăn lên trong gió. Người ta đứng đọc mà không ai nói. Có bà cụ đọc xong thì ngồi bệt xuống vỉa hè, có ông đọc xong thì quay đi luôn, đi rất nhanh.
Tôi chen vào. Tôi đọc từ trên xuống, chữ nhỏ, chi chít. Họ tên, tuổi, số nhà, tên ngõ. Ngõ nào cũng có. Ngõ tôi có một cột dài.
Tôi tìm thấy tên bà Cả Nhỡ trước. Rồi tên hai đứa con nhà bán than ở đầu dãy, đứa lớn hơn tôi một tuổi. Rồi ngay dưới đó, mực tím nhòe một nửa, mà tôi vẫn đọc ra.
Đỗ Thị Mận. Hai mươi mốt tuổi. Dãy nhà số lẻ, ngõ Cây Sấu.
Tôi đứng đọc cái dòng ấy không biết bao nhiêu lần. Tôi đọc cả những dòng trên dưới, như thể đọc kỹ thì chữ sẽ đổi. Người ta chen vào đẩy tôi ra. Tôi lùi lại, va vào cái cột điện, đứng tựa vào đó.
Tôi nhớ đến bàn tay buông thõng của người được bế lên khỏi cái hố đêm hai mươi sáu, các ngón tay co lại như đang cầm một vật gì bé xíu. Cuộn chỉ lõi gỗ. Chị đã cầm cuộn chỉ của mẹ tôi suốt cả lúc ấy.
Vậy mà đêm nào tôi cũng đưa kim chỉ tận tay chị.
Tôi về nhà cô Thoa trước, không về nhà mình. Cô đang khâu áo trên chiếc máy khâu của cô. Tôi đứng ở cửa hỏi cô biết chị Mận chết từ bao giờ. Cô dừng tay, nhìn tôi rất lâu, rồi bảo tôi vào ngồi.
"Sáng hai mươi bảy người ta đào được. Ở hầm chung bên dãy ấy. Nước ống vỡ chảy vào ngập hầm, khói tràn xuống. Người trong ấy không bị bom, cháu ạ. Bị ngạt, bị nước."
Cô kể người ta đưa đi chôn tập trung ở nghĩa trang ngoài Văn Điển, quấn chiếu, có ghi tên vào cái bảng gỗ cắm đầu mộ. Cô bảo cô không muốn kể cho tôi, mẹ tôi cũng dặn đừng kể.
Tôi hỏi con chị Mận đâu. Đêm ấy chị đẻ rồi, tôi nghe tiếng trẻ con khóc, tôi thấy ông Bảy bế một cái gói chạy đi.
Cô Thoa cúi xuống cái máy khâu. Cô quay bánh xe bằng tay, chậm, cái kim lên xuống không có vải.
"Cô không biết. Người ta bảo mẹ con nó đi cả. Cô không biết."
Cô nói hai lần "cô không biết". Lần thứ hai giọng cô nhỏ hẳn đi.
Tôi về nhà. Mẹ đang ngồi ở bậc cửa phơi tã. Tôi đứng trước mặt mẹ.
"Mẹ bảo chị Mận lên viện ngoại thành."
Mẹ không ngẩng lên. Mẹ vắt cái tã, nước nhỏ tong tong xuống bậc cửa.
"Chị ấy chết rồi. Mẹ biết chị ấy chết rồi. Tên chị ấy dán ở tiểu khu."
"Mẹ biết."
"Thế sao mẹ bảo con..."
"Mẹ bảo thế để con ngủ được."
Mẹ đứng dậy, đi vào nhà. Tôi đi theo. Tôi hỏi thế người đêm nào cũng đến là ai, tại sao chị đến nhà mình, tại sao chị đòi khâu tã, con chị đâu. Tôi hỏi dồn, càng hỏi càng to. Em Khôi thức giấc, khóc ré lên.
Mẹ quay lại. Tôi chưa từng thấy mẹ nhìn tôi như thế. Không giận. Như người đứng trên bờ ao nhìn xuống nước sâu.
"Liên. Chuyện chị Mận, từ giờ không được nói. Không nói với mẹ, không nói với cô Thoa, không nói với ai. Con thương mẹ thì con nghe mẹ."
Rồi mẹ bế em Khôi lên dỗ, quay lưng lại phía tôi.
Tối ấy tôi lục túi áo bông, lấy ra mẩu vải cháy dở nhặt trong đống tro bếp. Tôi soi nó dưới đèn dầu. Mấy mũi chỉ đỏ thêu thành một cái que chéo. Tôi lấy ngón tay vẽ lên mặt chiếu, vẽ một chữ K, rồi nhìn cái que chéo ấy. Nó vừa khít với nét dưới của chữ K.
Chị Mận thêu chữ K ở góc mỗi cái tã. Cho cháu nó biết bố nó tên gì.
Tôi tự giảng cho mình. Đêm ấy mẹ đẻ ở trạm, không mang theo cái tã nào. Người ta nhặt được rổ khâu của chị Mận, lấy tã của chị quấn cho em tôi. Mẹ biết là đồ của người chết nên mẹ đốt. Nghĩ thế thì cái gì cũng xuôi. Chị Mận về đòi lại tã cho con chị, thế thôi.
Tôi nhét mẩu vải vào dưới gối. Tôi nằm nghiêng nhìn em Khôi ngủ, cái mụn thịt trước tai trái nó nhô lên trong bóng tối.
Đêm ấy mùi khói đến sớm. Hơi lạnh đến cùng với nó. Đèn dầu chưa tắt mà ngọn lửa co lại chỉ bằng hạt đậu, xanh lét.
Không có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ vang lên ở ô cửa sổ gian trong, ngay sát đầu giường, chỗ em Khôi nằm. Ô cửa sổ ấy bằng gỗ, cài then, ngoài là cái sân sau với căn hầm sập một nửa. Không ai đi vào sân sau được, trừ khi trèo qua tường.
Tiếng gõ khẽ, bằng đốt ngón tay. Rồi giọng chị Mận, ngay bên kia tấm gỗ, gần đến mức tôi nghe được cả tiếng chị thở ra.
"Chị Huệ ơi."
Lần này chị không gọi tôi.