☾ Truyện Ma Có Thật
← Lời hứa ở bãi ngang

Chương 10: Khoang ghe hai đáy

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Cái ghe mẫu nằm dưới nền gạch, ngay chân bàn thờ, chỗ vệt cát ướt hôm trước.

Nó rơi từ trên bàn thờ xuống, cao chừng một thước rưỡi. Cái mũi ghe gãy lìa, văng ra tận chân ghế. Tấm ván đáy nứt dọc làm đôi. Cạnh đó là ba cái chân hương đổ, tàn hương rơi vãi thành một vệt xám. Tấm ảnh bọ tôi vẫn đứng nguyên, mặt ông nhìn xuống cái ghe vỡ.

Nga đứng ở cửa, không bước vào.

"Chiều nay em đang nấu cơm dưới bếp. Trời nỏ có gió. Em nghe tiếng dép đi từ ngoài hiên vô nhà trên. Rồi đứng. Rồi một tiếng rơi. Em chạy lên thì nó nằm rứa."

Tôi quỳ xuống nhặt cái ghe lên.

Bọ tôi đóng nó năm tôi lên mười. Ông lấy một khúc gỗ mít thừa của bàn thờ ông nội, đục, bào, uốn suốt một mùa mưa. Đóng đúng như một chiếc nốc thật thu nhỏ, có sống, có sườn, có ván be, có cái khoang ở giữa với một tấm nắp đậy. Đóng xong ông đặt lên bàn thờ, nói để thờ nghề. Tôi xin chơi, ông không cho, nói đồ thờ không phải đồ chơi.

Bọ mất năm chín mươi. Ông leo lên giá kê sống thuyền để lắp ván be cho một chiếc nốc của hợp tác xã, giá gãy, ông rơi xuống, đập đầu vào cái bệ đá. Tôi biết tin bốn tháng sau, qua một lá thư của người chị họ gửi vào Phước Tỉnh. Đọc thư xong tôi ra bờ biển ngồi cả đêm. Tôi không về. Tôi sợ về là bị bắt. Tôi tự nhủ là vậy.

Tôi cầm cái ghe vỡ trên tay, lật lên.

Tấm ván đáy nứt dọc, hở ra. Tôi thấy ngay một điều mà người thợ nào cũng thấy. Cái ghe có hai đáy. Đáy trên là đáy khoang, gỗ mít, cùng màu với thân. Đáy dưới là một tấm ván khác, mỏng hơn, màu nhạt hơn, gỗ thông. Giữa hai đáy có một khoảng trống, cao chừng một đốt ngón tay. Tấm ván thông được gắn vào bằng keo và đinh tre, đường mộng khít tới mức hai năm nay ngày nào tôi cũng nhìn cái ghe mà không thấy.

Bọ đã gắn thêm cái đáy đó. Sau khi tôi đi.

Trong khoảng trống giữa hai đáy có một gói nilon. Gói nhỏ, dẹt, gấp nhiều lớp, buộc bằng một sợi dây gai, kiểu dây gai ngày xưa làng tôi dùng đan lưới. Nilon đã ngả vàng, giòn. Tôi lấy mũi dao rạch sợi dây gai, gỡ từng lớp nilon ra.

Bên trong là ba cái phong bì và một tờ giấy gấp tư.

Ba cái phong bì loại giấy xám, mỏng, thứ phong bì bưu điện bán những năm tám mươi. Tem in hình hoa sen, đã phai. Dấu bưu điện mờ, tôi đưa lại gần đèn mới đọc được mấy chữ: Quảng Trạch. Rồi một năm: 1988. Cái thứ hai: 1989. Cái thứ ba: 1990.

Người nhận, chữ viết tay bằng mực tím, nét nghiêng: "Bác Lê Văn Thuận, thợ thuyền, làng Động Cát, Kỳ Anh, Hà Tĩnh".

Tôi lật cái phong bì thứ nhất ra mặt sau. Mặt sau ghi người gửi.

Tay tôi run tới mức phải đặt cái phong bì xuống mặt bàn thờ mới đọc được. Nga đi tới đứng sau lưng tôi, cầm cái đèn dầu giơ lên cao.

Tôi biết nét chữ đó. Nét nghiêng, chữ "h" có cái móc dài phía dưới, chữ "N" viết hoa như một con sóng. Tôi đã đọc nét chữ đó trên những mảnh giấy nhỏ gấp làm tư, nhét vào khe ván của cái xưởng bọ tôi, những buổi chiều năm tám bốn, năm tám lăm. Mảnh nào cũng chỉ vài chữ: tối ni ra gốc phi lao. Mai mạ đi chợ huyện. Anh đừng quên.

Nét chữ ấy ghi ở mặt sau phong bì, mực tím đã nhạt mà vẫn đọc được:

"Người gửi: Trần Thị Nhàn. Thôn Cồn Sẻ, Quảng Trạch, Quảng Bình."

Tôi ngồi xuống nền gạch. Không phải ngồi. Chân tôi sụm xuống, tôi ngồi luôn chỗ đó, giữa tàn hương và mảnh gỗ mít vỡ.

Nga quỳ xuống cạnh tôi, đặt cái đèn dầu lên nền. Nga cầm lấy tờ giấy gấp tư, mở ra, đưa cho tôi. Tôi không cầm. Nga đọc cho tôi nghe.

Đó là chữ của bọ tôi. Chữ ông to, vụng, mỗi chữ một nét đè mạnh như đục vào gỗ. Không có ngày tháng.

"Lộc. Bọ nỏ biết mi ở mô để gửi. Bọ viết rồi cất vô đây. Khi mô mi về, mi ngồi trước bàn thờ, thế nào mi cũng thấy cái ghe ni. Mi là thợ, mi sẽ thấy cái đáy."

"Con Nhàn còn sống. Hắn trôi vô Cồn Sẻ, người ta vớt. Hắn dặn bọ đừng nói với ai trong làng, hắn sợ. Bọ giữ lời hắn. Mi về thì mi đi đón hắn. Mi hứa với hắn rứa. Bọ."

Nga đọc xong, đặt tờ giấy xuống. Ngọn đèn dầu cháy lặng, không chao.

Tôi nghe mình nói, không phải với Nga, không phải với bọ, mà với cái vệt cát ướt đã khô dưới chân bàn thờ:

"Mi hứa với hắn rứa."

Ngoài sân, côn trùng trong bụi tre vẫn kêu. Lần này nó không im. Không có tiếng dép. Không có ai đứng ngoài cửa rào. Chỉ có tôi, ngồi giữa nền nhà, cầm trên tay ba lá thư mà người cha đã chết cất giữ cho tôi suốt hai mươi bốn năm, trong bụng một chiếc ghe gỗ, trên bàn thờ của chính ông.

Còn sống. Năm tám tám.

Tôi xé cái phong bì thứ nhất.