☾ Truyện Ma Có Thật
← Lời hứa ở bãi ngang

Chương 11: Bãi cát hạt đen

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Đêm đó tôi đọc ba lá thư tới gần sáng. Đọc đi đọc lại, tới mức về sau tôi thuộc từng câu.

Lá thứ nhất viết tháng Ba năm tám tám. Nhàn kể chiếc mui gãy trôi hai ngày hai đêm, tới sáng ngày thứ ba thì mấy người đi lộng ở Cồn Sẻ vớt được, cách làng mình bốn chục cây số về phía nam. Đầu Nhàn đập vào một cái đinh trên mép ván, vết rách dài từ lông mày lên trán. Hơn một năm Nhàn không nhớ mình là ai, không nhớ tên, không nhớ làng. Một ông già đánh cá tên Mão với vợ đưa Nhàn về nuôi, gọi là con Nước, vì vớt dưới nước lên.

"Bác ơi, con nhớ lại từng chút. Cái con nhớ đầu tiên nỏ phải tên con, nỏ phải tên mạ. Con nhớ một câu anh Lộc nói. Rồi con mới nhớ anh Lộc là ai."

Nhàn hỏi tin tôi. Nhàn xin bác đừng nói với ai trong làng là Nhàn còn sống. Nhàn sợ công an. Sợ nhà những người chết đuối, vì cậu Cửu gom vàng của người ta. Sợ cái mộ gió đã đắp rồi mà mình còn sống thì làng sẽ nói chi.

Lá thứ hai viết cuối năm tám chín. Nhàn cảm ơn bác đã viết trả lời, dù tin chẳng vui. Mệ Lượm đã lén qua Cồn Sẻ ở với Nhàn. Nhàn vào tổ đan lưới của hợp tác xã, ngày đan, tối đan, nuôi mạ. Cuối thư có một câu, viết nhỏ hơn những câu khác:

"Anh Lộc hứa quay lại đón con thì con chờ. Bác đừng bảo anh đi tìm. Để anh tự nhớ mà quay lại."

Lá thứ ba viết đầu năm chín mươi, ngắn. Nhàn hỏi bác có khoẻ không, có tin tôi không. Nhàn nói tóc Nhàn bắt đầu bạc một vệt bên trái, chỗ vết sẹo, người ta bảo vết thương ở đầu thì tóc bạc sớm. Rồi hết.

Sáng ra tôi với Nga đi xe máy qua Đèo Ngang. O Sen vẽ đường cho tôi trên một mảnh giấy bao thuốc lá. Qua đèo, gió bấc thổi ngang, cát bay rát mặt.

Bãi Cồn Sẻ dài và thấp, thuyền cũng phải đẩy lên cát bằng con lăn như làng tôi. Nhưng cát ở đây không trắng. Cát vàng xỉn, lấm tấm những hạt đen, sóng rút tới đâu hạt đen đọng thành vệt tới đó. Tôi cúi xuống bốc một nắm. Xoè tay ra. Những hạt đen như mè rang, bóng lên dưới nắng.

Dưới mấy gốc phi lao sát bãi, có năm sáu người đàn bà ngồi trên chiếu đan lưới. Lưới cước xanh, mắc lên những cái cọc tre. Tay họ chạy thoăn thoắt. Ở mỗi chỗ nối, ngón tay họ xoắn sợi cước hai vòng, rồi luồn ngược một vòng, kéo chặt.

Tôi hỏi nhà Trần Thị Nhàn.

Mấy bàn tay dừng lại. Một bà già nhất, mắt kèm nhèm, ngẩng lên nhìn tôi rất lâu.

"O Nước hả? O Nhàn?" Bà nói giọng Quảng Bình, kéo dài chữ cuối. "Eng là ai rứa?"

Tôi nói tôi là người làng cũ.

Bà nhìn tôi thêm một lúc, rồi đưa tay chỉ về một cái ngõ sau hàng phi lao.

"Nhà thứ ba. Mệ Lượm ở trong nớ. Mà eng ơi, o Nhàn mất rồi. Mất hồi tháng Sáu. Tổ tui còn thiếu người đan từ đó tới chừ."

Nhà thứ ba là một ngôi nhà cấp bốn nhỏ, mái ngói, tường quét vôi vàng đã loang lổ. Quanh nhà không có rào tre, chỉ có một hàng xương rồng. Trên hiên mắc một tấm lưới đang đan dở, cước xanh, mấy cái thoi tre còn cắm trên đó.

Một bà cụ ngồi ở bậc cửa, lưng còng gần gập đôi, tóc trắng xoá. Mệ Lượm. Mệ ngẩng lên khi nghe tiếng chân. Mắt mệ đã đục như sữa.

Tôi gọi: "Mệ."

Mệ ngồi im. Rồi đôi tay gầy run run đưa ra phía trước, quờ trong không khí. Tôi bước tới, quỳ xuống, đặt tay mình vào tay mệ.

"Thằng Lộc. Phải thằng Lộc nỏ?"

Tôi nói phải.

Mệ không khóc. Mệ chỉ cầm tay tôi, vuốt từng ngón, như người ta sờ một tấm vải cũ để nhớ lại màu của nó.

"Mi về muộn rồi, con ơi. Hắn đi rồi."

Mệ dắt tôi vào nhà. Trên bàn thờ có một tấm ảnh, ảnh chụp ở hiệu ảnh thị trấn, phông xanh. Người đàn bà trong ảnh chừng bốn lăm tuổi, gầy, cằm nhọn, đôi mắt của Nhàn. Ngang lông mày trái có một vết sẹo. Tóc vấn gọn, có một vệt bạc bên trái, từ chân tóc chạy xuống.

Đó là gương mặt tôi đã thấy dưới ánh đèn bão, ngoài cửa rào nhà tôi.

Mệ Lượm lần tay xuống dưới gầm bàn thờ, lôi ra một cái hộp sắt đựng bánh, nắp đã gỉ. Trong hộp có một tờ giấy học trò gấp làm tư, giấy đã vàng, mép đã sờn như vải.

"Hắn giữ cái ni từ năm tám bảy, từ hồi hắn nhớ lại. Đi mô cũng mang theo, đêm ngủ để dưới gối. Lúc sắp đi, hắn dặn đừng đưa cho mi. Hắn nói để anh tự nhớ. Mà mấy tháng ni, đêm mô tau cũng nằm mơ thấy hắn đứng ngoài cửa nhà ai, tóc ướt, nỏ chịu vô. Tau nghĩ hắn nỏ đợi được nữa."

Nga mở tờ giấy ra giúp tôi, vì tay tôi không mở được.

Chữ mực tím, nét nghiêng, chữ "N" như con sóng. Chỉ có hai dòng.

"Mồng sáu tháng Mười năm Ất Sửu. Cưới.

Anh Lộc nói: Bám vào đó, anh quay lại đón em."

Ba mươi năm, câu nói chìm dưới đáy biển nổi lên trên một tờ giấy học trò. Tôi nghe lại giọng mình, nước mặn tràn vào miệng, sóng đè lên vai.

Rồi tôi đọc lại dòng thứ nhất.

Mồng sáu tháng Mười. Ngày hai nhà định cưới năm ấy, ngày tôi đã quên. Ngày tôi chọn ở nhà thầy Lương vì nghe quen quen. Ngày tôi đứng trước bàn thờ bọ tôi, cạnh một người đàn bà khác, mặc áo dài đỏ.

Bên cạnh tôi, Nga cũng vừa đọc xong. Tôi nghe Nga thở ra một hơi rất dài, run run. Rồi bàn tay Nga, ấm, đặt lên lưng tôi.