Chương 2: Tiếng dép quanh hiên
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi không nói với Nga về giấc mơ. Tôi nói chắc mèo hàng xóm, chắc con chó nhà ông Ba Hới sang bới cát. Nga gật đầu, không hỏi thêm, quét vệt cát trên bậc cửa đi rồi xuống bếp nấu cháo. Mảnh lưới tôi bỏ vô túi áo, mang ra xưởng.
Hồi đó tôi đang đóng cho ông Thái ở xóm Đông một chiếc nốc câu, dài bảy mét rưỡi, ván sến, sống bằng gỗ lim. Sống đã đặt, sườn đã dựng được hai phần ba. Mỗi sáng tôi ra xưởng từ lúc mặt trời còn nằm sát mép biển, hơ ván, uốn ván, đóng đinh tre, tới trưa mới về ăn cơm. Nghề này không vội được. Ván uốn non tay là nứt, mà nứt thì nốc ra khơi sẽ uống nước.
Trưa hôm đó, ngồi nghỉ dưới mái xưởng, tôi lấy mảnh lưới ra xem kỹ. Sợi cước xanh, loại cước người ta bán theo cuộn ở chợ huyện bây giờ. Hồi tôi còn ở làng, trước năm tám lăm, làng tôi chưa có lưới cước. Lưới đan bằng sợi gai, nhuộm củ nâu cho bền, màu nâu đỏ, phơi khô thì cứng như mây. Cái nút xoắn hai vòng luồn ngược thì tôi hỏi mấy ông ngư phủ già, ông nào cũng lắc đầu.
Ông Ba Hới cầm lên, lật qua lật lại, nói:
"Nút ni nỏ phải nút làng mình. Làng mình buộc nút dẹt. Eng nhặt ở mô rứa?"
Tôi nói nhặt ngoài bãi.
Lúc đó có một người đi ngang xưởng, dừng lại nhìn. Ông Lành. Hồ Văn Lành, hơn tôi hai tuổi, giờ đã già trước tuổi, lưng còng, mắt đục, hơi rượu bay theo gió. Ông nhìn mảnh lưới trong tay ông Ba Hới, rồi nhìn tôi. Cái nhìn đó tôi biết. Hai năm tôi về làng, lần nào gặp, ông cũng nhìn tôi như thế, rồi quay đi, không chào.
Ông Lành là một trong hai người còn sống sót cùng tôi đêm năm tám lăm. Tôi sẽ kể sau.
Tối hôm ấy Nga lại nghe tiếng dép.
Lần này tôi không ngủ. Tôi nằm nghiêng, mặt quay ra cửa sổ, cửa sổ chấn song gỗ nhìn ra hiên. Ngoài kia gió nồm thổi đều, bụi tre kẽo kẹt, sóng vỗ đều như người thở. Tôi nằm lâu tới mức tưởng mình sắp thiếp đi thì côn trùng trong bụi tre im bặt. Không phải bớt dần. Im một lượt, như có ai bóp tắt.
Rồi có tiếng dép.
Tiếng dép nhựa đi trên gạch thẻ, chậm, từ góc hiên phía bếp đi lên. Nhưng không đều. Một tiếng "lẹp", rồi một tiếng nhẹ hơn, mềm, như bàn chân trần ướt đặt xuống gạch. Rồi lại "lẹp". Rồi tiếng chân trần. Một chân mang dép, một chân không.
Nga nắm cổ tay tôi dưới chăn. Tay Nga lạnh.
Tiếng chân đi qua trước cửa sổ. Tôi không thấy ai. Chấn song gỗ, rồi hiên, rồi sân xám xám dưới ánh sao, không có ai. Chỉ có tiếng chân. Nó đi hết dọc hiên, vòng ra sau nhà, đi ngang qua cái lu nước, vòng lên phía bếp, rồi lại lên hiên. Một vòng. Rồi một vòng nữa.
Tôi không đứng dậy. Tôi nói thật, tôi không dám. Năm mươi mốt tuổi, cả đời đi biển, đóng thuyền, từng ôm ván giữa sóng cả một đêm, mà tôi nằm cứng đơ trên giường, cổ tay để yên cho vợ mới cưới nắm.
Gần sáng thì tôi thiếp đi. Và tôi lại mơ thấy cửa rào.
Người con gái vẫn đứng đó. Tóc vẫn ướt, nước vẫn nhỏ lộp độp xuống cát. Lần này người đó ngẩng mặt lên một chút. Tôi không thấy rõ mặt, chỉ thấy cái cằm nhọn, và thấy bàn tay đưa lên vén một lọn tóc ướt ra sau tai, vén bằng ngón út, từ dưới lên.
Tôi biết cái cử chỉ đó.
Có một người con gái hồi xưa vén tóc đúng như thế. Ngồi bên sống thuyền bọ tôi đang đóng, chờ tôi trét xong một đường chai để đi tắm biển, gió thổi tóc bay, cô vén bằng ngón út, từ dưới lên, rồi cười vì tóc lại bay.
"Anh còn nợ em một lời hứa."
Giọng ấy. Tôi tỉnh dậy, mồ hôi đẫm lưng áo, miệng khô. Nga đã dậy, đang ngồi ở mép giường nhìn tôi.
"Eng kêu chi trong mơ rứa? Eng kêu một cái tên."
Tôi hỏi tên chi.
Nga lắc đầu. "Em nghe nỏ rõ."
Sáng đó trên bậc cửa lại có một vệt cát ướt, đúng chỗ cũ, cát lẫn hạt đen. Không có lưới. Nga lấy chổi quét đi. Quét xong, Nga đứng trên bậc cửa một lúc, nhìn ra cửa rào, rồi quay vào thắp ba nén hương lên bàn thờ bọ tôi, khấn rất lâu, môi mấp máy.
Tôi đứng sau lưng Nga, nhìn tấm ảnh bọ, nhìn cái ghe mẫu bằng gỗ mít, và nói tên người con gái đó trong đầu. Không thành tiếng.
Nhàn.
Trần Thị Nhàn. Người tôi hứa cưới năm hai mươi hai tuổi. Người đã chết đuối ngoài khơi Hòn Sơn Dương đêm hai mươi tháng Tám năm Ất Sửu, trên chiếc thuyền mà tôi cầm lái. Ba mươi năm rồi người ta không tìm được xác. Ngoài bãi tha ma làng tôi có một cái mộ gió đắp bằng cát cho Nhàn, không có xương, chỉ có một bộ áo.
Tôi chưa ra thăm cái mộ đó lần nào. Hai năm về làng, chưa một lần.