☾ Truyện Ma Có Thật
← Lời hứa ở bãi ngang

Chương 5: Người cùng chuyến

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Nhà ông Lành ở sát bãi, phía bắc làng, gần cái bãi đá năm xưa hai chúng tôi dạt vào. Một cái chòi lợp tôn, vách ván ghép, trước cửa phơi mấy tấm lưới rách không ai vá. Vợ ông bỏ đi từ lâu. Thằng con trai đi làm thuê bên Đài Loan, mỗi năm gửi về ít tiền, ông uống gần hết.

Tôi mang theo một chai rượu trắng với một gói mực nướng. Ông Lành ngồi trên bậc cửa, nhìn chai rượu, nhìn tôi, rồi né người cho tôi ngồi.

Ông rót ra hai cái chén mẻ. Uống hết chén đầu thì ông mới nói:

"Mi tới hỏi chuyện đêm nớ."

Tôi nói phải.

"Ba mươi năm mi nỏ hỏi. Hai năm mi về làng cũng nỏ hỏi. Chừ mới hỏi." Ông rót chén thứ hai. "Hắn về phải nỏ?"

Tôi không trả lời. Ông Lành cười, một cái cười không có tiếng, chỉ có hơi rượu.

"Cả làng đồn rồi. Nhà mi gãy cửa rào, mệ Thơm qua cúng. Ai mà nỏ biết."

Tôi hỏi ông còn nhớ đêm đó không.

Ông im rất lâu. Ngoài kia sóng vỗ vào bãi đá, nghe đục và nặng, không giống tiếng sóng trên bãi cát. Ông kể. Ông kể chậm, nhiều chỗ ngắt quãng, nhìn ra biển chứ không nhìn tôi.

"Thuyền lật thì tau văng ra trước. Tau bám được một khúc ván be. Tau thấy mi lôi con Nhàn tới cái tấm mui gãy, đẩy hắn lên. Mi nói chi với hắn đó, tau nỏ nghe. Sóng to quá. Rồi một con sóng lớn đập tới, mi trôi đi. Tau trôi đi."

Tôi hỏi rồi sao nữa.

"Rồi hắn buông tay. Tau thấy. Hắn chìm."

Tôi hỏi ông thấy lúc nào, ở chỗ nào, khi trời còn tối như mực, sóng cao quá đầu người.

Ông Lành đặt mạnh cái chén xuống bậc cửa, rượu sóng ra ngoài.

"Tau nói hắn chìm thì hắn chìm. Mi hỏi chi nữa."

Tôi ngồi im. Ông Lành cũng ngồi im. Một con chó gầy đi dọc bãi, ngửi mấy tấm lưới rách, rồi đi tiếp.

Lát sau ông nói, giọng nhỏ lại, như tự nói với mình:

"Cái tấm mui nớ nhỏ. Hai người bám nỏ nổi."

Tôi quay sang nhìn ông. Ông không nhìn lại. Tôi muốn hỏi răng ông biết hai người bám không nổi, mà tôi không hỏi. Tôi đã quen ba mươi năm không hỏi những câu như thế.

Tôi hỏi chuyện khác. Hỏi mệ Lượm giờ ở mô.

"Mệ bỏ làng đi từ năm tám tám. Nhà đất bán cho ông Ba Hới, bán rẻ như cho. Nói đi Quảng Bình ở với bà con bên ngoại, rồi bặt. Chẳng ai biết ở mô. Chắc chết rồi. Mệ chừ mà sống thì tám mấy, gần chín chục."

Ông nhấp rượu, rồi nói thêm, như sực nhớ:

"Mà lạ. Mệ đi mà mặt tươi. Người mất con, mất em, mất nhà, mà lúc ra xe mặt mệ tươi. Cả làng nói mệ lẫn rồi."

Tôi hỏi ai thắp hương ở mộ gió của Nhàn.

Ông Lành đứng dậy, vào trong chòi. Tôi nghe ông lục lọi, rồi ông đi ra, tay cầm một bó hương đã dùng dở, thứ hương vàng rẻ tiền bán ở chợ xã.

"Tau. Mỗi năm một lần. Đêm hai mươi tháng Tám."

Ông đặt bó hương xuống cạnh chai rượu, ngồi xuống, nhìn ra biển.

"Tau thắp cho cả bốn người. Mà tau ngồi trước mộ con Nhàn lâu hơn."

Tôi chìa mảnh lưới cước xanh ra cho ông xem. Ông cầm lên, đưa sát mắt, nhìn cái nút xoắn hai vòng. Rồi ông đưa trả.

"Nỏ biết. Nút lạ."

Tôi đứng dậy về. Ra tới mép bãi, ông Lành gọi với theo. Gió thổi giọng ông lẫn vào tiếng sóng, phải một lúc tôi mới nghe ra.

"Lộc. Mi về làng làm chi? Ba mươi năm mi nỏ về. Chừ về làm chi?"

Tôi không biết trả lời. Tôi đi tiếp.

Tôi về tới nhà khi mặt trời đã xuống sau đồi cát. Nhà vắng, Nga đi đã ba hôm. Tôi gài cửa rào gãy bằng một sợi dây thừng, vô nhà, bật đèn, định thắp hương cho bọ.

Tôi đứng sững trước bàn thờ.

Cái ghe mẫu bằng gỗ mít của bọ tôi vẫn ở chỗ cũ, bên phải tấm ảnh. Nhưng nó đã quay đi. Hồi bọ còn sống nó đặt thế nào thì tôi về vẫn để nguyên thế ấy, mũi ghe hướng vào tấm ảnh. Bây giờ mũi ghe hướng thẳng ra cửa chính, lệch về bên tay phải, tức là về phía nam.

Tôi đưa tay xoay nó lại. Gỗ mít lạnh và ướt như vừa được nhấc lên từ dưới nước. Dưới đáy ghe, trên mặt bàn thờ, đọng một vũng nước nhỏ, mặn, với mấy hạt cát đen.

Tôi lau khô, xoay mũi ghe vào ảnh bọ. Đêm đó tôi không tắt đèn.

Sáng ra cái mũi ghe lại chỉ về phía nam.