☾ Truyện Ma Có Thật
← Lời hứa ở bãi ngang

Chương 6: Lưới buộc bánh lái

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Chiếc nốc câu của ông Thái gần xong. Ván be đã kín, chai đã trét hai lượt, tôi đã lắp cái bánh lái bằng gỗ chò, chốt bằng một cái trục sắt. Còn sơn nữa là hạ thủy. Ông Thái chọn ngày hạ thủy vào cuối tháng Mười một, nói để kịp đánh mùa cá trích.

Sáng hôm đó tôi ra xưởng sớm hơn thường lệ. Mấy đêm Nga đi vắng, tôi ngủ không được, nằm nghe tiếng dép quanh hiên tới gần sáng thì dậy, ra xưởng cho đỡ.

Từ xa tôi đã thấy cái bánh lái có màu khác.

Lại gần thì thấy nó bị quấn kín bằng lưới. Không phải một mảnh, không phải một sợi. Một tấm lưới cước xanh dài, quấn từ trục xuống tới chân bánh lái, quấn chặt, vòng nọ đè vòng kia. Ở mỗi chỗ giáp mối, có người đã buộc lại bằng cái nút xoắn hai vòng luồn ngược. Tôi đếm được mười mấy cái nút rồi thôi không đếm nữa. Lưới còn ướt, nước từ mắt lưới nhỏ xuống cát dưới bệ xưởng thành một vũng.

Phải cả một đêm ngồi buộc mới được chừng ấy nút.

Tôi đứng nhìn cái bánh lái. Trên một con thuyền, cái bánh lái là chỗ của người cầm lái. Đêm năm tám lăm, tay tôi đặt lên cái cần lái của thuyền cậu Cửu, và tôi đã lái chín người vào gió.

Tôi gỡ tấm lưới ra. Gỡ mất gần một buổi, vì tôi không nỡ cắt. Gỡ ra rồi, tôi cuộn lại, mang lên chợ xã.

Chợ xã họp sát bãi, buổi sáng tấp nập người mua cá. Có một o tên Sen, người Quảng Bình, mỗi tuần qua làng tôi hai lần mua cá rồi chở xe máy qua Đèo Ngang bán lại. O nói giọng Quảng Bình, nhẹ hơn giọng làng tôi, cuối câu hay kéo lên. Tôi đưa tấm lưới cho o xem, không mong gì, chỉ vì hỏi hết người làng rồi.

O Sen cầm lên, nhìn một cái nút, rồi cười.

"Nút mắt cua đây mà. Eng lấy ở mô rứa? Bên Cồn Sẻ quê chồng tui đan lưới cước toàn buộc nút ni. Hợp tác xã bên đó có cái tổ đan lưới, toàn đàn bà, ngồi đan dưới gốc phi lao, buộc nút ni hết. Nút chặt, nước kéo mấy cũng nỏ tuột."

Tôi hỏi Cồn Sẻ ở đâu.

"Dưới Đèo Ngang, đi chừng bốn chục cây số, thuộc huyện Quảng Trạch. Làng bãi ngang như làng eng. Có điều bãi bên tê cát nỏ trắng như bên ni. Cát có hạt đen, lấm tấm, người ta nói là cát titan, có hồi người ta vô khai thác."

Tôi đứng giữa chợ, tay cầm cuộn lưới ướt. Người qua lại chen vào vai tôi mà tôi không biết.

Hồi đó, sau đêm thuyền lật, người ta vớt được ba cái xác. Hai cái dạt vào bãi đá phía bắc làng. Cái thứ ba dạt rất xa về phía nam, vào một bãi bên Quảng Bình, một tuần sau mới có người bên đó nhắn sang. Gió mùa thu năm đó thổi từ bắc xuống, nước chảy về phía nam. Bốn người không tìm được xác, có khi không phải chìm hẳn xuống đáy biển. Có khi họ trôi.

Tôi nghĩ ra một chuyện, và từ lúc nghĩ ra thì tôi tin luôn.

Xác Nhàn trôi về phía nam, dạt vào bãi Cồn Sẻ. Người bên ấy không biết Nhàn là ai, chôn như một cái xác vô danh ở một góc bãi. Ba mươi năm nay Nhàn nằm ở một bãi cát lạ, giữa những người đan lưới lạ. Còn ở làng tôi, cái mộ gió của Nhàn chỉ có một bộ áo. Nhàn muốn về. Nhàn chờ tôi, người đã đưa Nhàn đi, tới đón Nhàn về.

Lời hứa là thế. Tôi đã hứa đưa Nhàn đi và đưa Nhàn tới nơi. Tôi không đưa tới. Tôi bỏ chạy.

Chiều đó Nga về.

Nga không gọi trước. Tôi đang ngồi ở hiên vá lại tấm phên cửa rào thì nghe tiếng xe lôi dừng ở đầu ngõ. Nga xách cái giỏ cói đi vào, đứng nhìn tấm phên tôi đang vá, rồi đặt giỏ xuống, ngồi xổm cạnh tôi, cầm lấy một nan tre đưa cho tôi.

"Mạ em nói lấy chồng thì ở nhà chồng. Nhà chồng có ma thì cũng ở nhà chồng."

Nga nói như kể chuyện người khác, rồi cười một chút. Tôi kể cho Nga nghe chuyện Cồn Sẻ, chuyện cái xác vô danh. Nga nghe, im lặng rất lâu, rồi nói:

"Rứa thì mình qua bên nớ hỏi. Em đi với eng."

Đêm đó tiếng dép không đi quanh hiên nữa.

Nó đi trong nhà.

Tôi nghe rõ từ trong buồng, tiếng dép nhựa đi trên nền gạch hoa ở nhà trên, chỗ có bàn thờ. Một tiếng "lẹp", rồi tiếng chân trần ướt. Đi chậm từ cửa chính vào. Đi qua bộ bàn ghế. Đến trước bàn thờ thì dừng lại. Đứng đó.

Nga nằm im, nắm chặt tay tôi. Hai vợ chồng nằm nghe sự im lặng ở nhà trên, dài như cả một con nước.

Rồi tôi nghe một tiếng gỗ nhỏ chạm trên mặt bàn thờ. Một tiếng "cộc" rất khẽ. Như ai đặt một vật gì xuống, hoặc xoay một vật gì đi.

Sáng ra trên nền gạch nhà trên, ngay dưới chân bàn thờ, có một vệt cát ướt. Không phải trên bậc cửa ngoài hiên nữa. Ở trong nhà, chỗ người ta quỳ lạy.

Tôi ngẩng lên nhìn bàn thờ. Cái ghe mẫu vẫn nằm yên, mà cái nắp khoang của nó, tấm gỗ mít nhỏ bằng hai ngón tay mà hồi nhỏ tôi cạy mãi không ra, đã bị đẩy lệch sang một bên. Tôi ghé mắt nhìn vào. Khoang trống, chỉ có mùi gỗ ẩm. Tôi đậy lại.

Một tiếng sau, lúc Nga thắp hương, nó lại hé ra.