☾ Truyện Ma Có Thật
← Sĩ số ba mươi mốt

Chương 1: Ba mươi hai cái đầu

Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem

Tháng Tám năm 1996 tôi ra trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ, hai mươi mốt tuổi, cầm quyết định về dạy ở trường tiểu học Đồng Măng, một xã vùng chè của huyện Thanh Sơn. Quê tôi ở huyện Phong Châu, sát sông Thao, đất bằng, quanh năm nghe còi nhà máy supe. Tôi chưa lên Thanh Sơn lần nào.

Mẹ tiễn tôi ra bến xe Việt Trì lúc bốn giờ sáng. Mẹ dúi vào làn một gói muối vừng, hai cân gạo tám, một cái đèn pin Con Thỏ với bốn quả pin mới. Lúc xe sắp chạy, mẹ níu cửa sổ, dặn một câu tôi không hiểu:

"Lên trên ấy đi đâu cũng đi một mình thôi nhé con. Đừng để ai đi theo."

Tôi tưởng mẹ sợ trai bản. Tôi cười, bảo mẹ về đi.

* * *

Trường Đồng Măng nằm trên một quả đồi chè thấp, năm gian nhà cấp bốn lợp ngói đỏ xếp hình chữ L, sân đất nện, cột cờ bằng cây luồng. Dưới chân đồi có một con suối nhỏ, người ta gọi là suối Cỏ, mùa khô lội được, mùa mưa nước đục ngầu và réo suốt đêm. Nhà công vụ của giáo viên là một dãy nhà tranh vách trát đất sau trường. Tôi được một gian, có giường tre, cái bàn gỗ, cái chum sành đựng nước mưa.

Thầy hiệu trưởng Đinh Văn Khải người Mường, ngoài năm mươi, nói ít, hút thuốc lào liên tục. Thầy đưa tôi một quyển sổ gọi tên bìa xanh, giao cho tôi lớp 4. Thầy nói lớp này ba mươi mốt em, phần đông con em người Mường, chịu khó nhưng nhút nhát, cô giáo cũ vừa chuyển về xuôi lấy chồng.

Cô Hà Thị Mến ở gian bên cạnh, dạy lớp 2, hơn tôi chục tuổi, cũng người Mường. Tối đầu tiên cô mang sang cho tôi một bát măng chua với ít cá suối kho. Cô ngồi nhìn tôi ăn, hỏi quê, hỏi nhà mấy anh chị em. Tôi nói nhà tôi giờ có mình tôi. Cô không hỏi thêm.

* * *

Sáng mùng năm tháng Chín, khai giảng xong, tôi vào lớp.

Phòng học lớp 4 ở đầu hồi chữ L, cửa sổ nhìn xuống suối. Mười sáu bộ bàn ghế gỗ xoan kê thành hai dãy, mỗi bàn hai chỗ. Trên tường có ảnh Bác, khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn" cắt bằng giấy đỏ đã bạc. Bảng đen quét sơn, góc bảng còn sót dòng chữ phấn của cô giáo cũ: "Sĩ số 31. Vắng 0."

Bọn trẻ đứng dậy chào. Tôi bảo ngồi xuống, rồi làm cái việc giáo viên nào cũng làm buổi đầu: đếm.

Tôi đếm từ bàn đầu dãy trái, đi xuống, vòng sang dãy phải, đi lên. Ba mươi hai.

Tôi nghĩ mình đếm nhầm vì hồi hộp. Tôi đếm lại, lần này chỉ tay vào từng đứa, mấp máy môi. Ba mươi hai.

Tôi mở sổ, gọi tên. Bùi Thị Nhàn, có. Đinh Văn Tuấn, có. Hà Văn Lực, có. Ba mươi mốt cái tên, ba mươi mốt tiếng "có".

Không ai vắng. Không ai thừa ra mà không có tên. Tôi hỏi có em nào lớp khác sang ngồi nhờ không. Cả lớp lắc đầu, có mấy đứa con gái che miệng cười vì cô giáo mới hỏi lạ.

Tôi đếm lần thứ ba, chậm hơn nữa. Đến bàn cuối dãy phải, sát cửa sổ, ngón tay tôi dừng lại ở một nửa ghế trống. Miệng tôi bật ra tiếng "ba mươi hai" trước khi tôi kịp nghĩ. Mấy đứa bàn trên quay xuống, nhìn theo ngón tay cô giáo, rồi nhìn nhau.

Bàn ấy chỉ có một thằng bé gầy, ngồi lệch hẳn về phía tường, chừa ra nửa ghế tôi vừa chỉ vào. Đó là Đinh Văn Tuấn. Lớp trưởng Nhàn nói bạn ngồi cùng Tuấn theo bố mẹ vào Tây Nguyên từ hè.

Vậy là ba mươi mốt. Tôi biết là ba mươi mốt. Tôi cầm viên phấn, bắt đầu giờ Tiếng Việt, và không đếm nữa.

* * *

Trưa hôm ấy tôi mở ngăn bàn giáo viên để cất sổ. Trong ngăn có một chiếc thuyền giấy.

Thuyền gấp bằng một tờ giấy vở ô li, kiểu thuyền hai mũi, đáy gấp lồi để thả nước không lật. Tờ giấy ố vàng, mép mềm như đã từng bị ướt rồi khô. Tôi nghĩ là của cô giáo cũ tịch thu của học trò. Tôi cầm lên, định vứt, rồi không hiểu sao lại để vào túi áo.

Tôi gấp thuyền giấy giỏi. Hồi nhỏ cả xóm tôi biết. Đứa nào muốn có thuyền thả mương đều mang giấy sang nhờ tôi. Kiểu ấy chính là kiểu tôi hay gấp, vì nó chở được cả một hòn sỏi mà không chìm. Tôi chỉ chưa thấy ai khác gấp đúng kiểu ấy.

Chiều, tôi đi bộ ra chợ xã mua dầu hoả. Đường đất đỏ men theo đồi chè, hai bên là cọ, là sim. Tôi đi một mình. Đến quãng dốc, tôi nhận ra bàn tay trái của mình đang nắm hờ, các ngón khum lại, buông thõng ngang đùi. Cái thói quen ấy tôi có từ lâu lắm, lâu đến mức không nhớ từ năm nào. Bạn cùng phòng ở trường sư phạm hay trêu tôi đi đường như đang dắt ai. Tôi xoè tay ra, chùi vào vạt áo, rồi đi tiếp.

* * *

Hết buổi chiều, trống đánh, cả trường xếp hàng dưới cột cờ hát bài "Kết đoàn" trước khi về. Lớp tôi đứng hai hàng dọc, con trai một hàng, con gái một hàng. Tôi đứng ở đầu hàng, mắt lướt dọc theo những cái đầu húi cua.

Tôi không định đếm. Mắt tôi tự đếm.

Hàng con gái mười sáu. Hàng con trai cũng mười sáu.

Theo sổ, lớp tôi mười lăm con trai.

Tôi đi dọc hàng con trai, từ đầu đến cuối, nhìn từng đứa. Mười lăm đứa. Rồi tôi quay lại đầu hàng, đứng đúng chỗ cũ, nhìn xuống. Mười sáu. Thằng đứng cuối là Tuấn. Sau Tuấn là một khoảng trống dài chừng hai người, nắng chiều đổ xuống đất đỏ, không có ai.

Nhưng ở cuối khoảng trống ấy, trên mặt đất khô, có hai vệt nước nhỏ hình bàn chân trẻ con, đang bốc hơi.