☾ Truyện Ma Có Thật
← Cuộn phim đám ma

Chương 1: Cái máy vỏ da

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Năm 2009 tôi hai mươi ba tuổi, mở một tiệm ảnh nhỏ xíu cạnh chợ Gò Găng, thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn. Gọi là tiệm cho sang, thật ra là cái tủ kính, một tấm bạt in chữ "Ảnh Minh Quang", với cái xe Wave cũ. Ai cưới, ai giỗ, ai đám thì gọi tôi. Ở quê, đám ma cũng phải có người chụp, để con cháu đi làm xa về sau còn có cái mà coi.

Nhà tôi chỉ có hai má con. Má bán xôi đậu xanh ở đầu chợ từ lúc trời còn tối, trưa về nằm võng, chiều lặt rau. Má bị huyết áp, bác sĩ trạm xá dặn ăn lạt, má không nghe. Tôi thì đi suốt. Mùa cưới tháng Chạp có ngày ba đám, mùa mưa thì đám ma nhiều hơn đám cưới.

Tháng Chín năm đó, cái máy Canon kỹ thuật số của tôi rớt xuống mương trong một đám cưới ở Nhơn Thành. Mang vô Quy Nhơn, người ta nói hư bo, phải gửi vô Sài Gòn, tiền sửa gần bằng mua máy mới. Tôi không có tiền. Mà tuần sau đã có hai đám người ta đặt.

Thằng Tín, đứa phụ tôi cầm đèn, nói ở xóm Gò Dài bên Nhơn Phúc có ông Tư Ảnh mới mất được hơn tháng. Ông chụp đám khắp An Nhơn với Tây Sơn mấy chục năm, toàn chụp phim. Con ông đang muốn bán cái máy.

"Máy phim thì mua phim, tráng rửa ở Đập Đá, tốn chút đỉnh mà chụp vẫn ra hình anh à."

Tôi chạy qua Gò Dài một buổi trưa nắng. Nhà ông Tư nằm cuối con đường đất, sau hàng tre, mái ngói âm dương đã rêu. Người ra mở cổng là anh Hoà, con trai ông, chừng gần bốn mươi, tay còn dính dầu nhớt vì làm nghề sửa xe. Anh mời tôi vô nhà, rót nước chè xanh.

Trên bàn thờ có tấm ảnh ông Tư, mới lồng khung, ông gầy, đeo kính trắng, cổ áo sơ mi cài kín. Bên cạnh có một khung ảnh gỗ khác, cũ hơn nhiều, nước sơn đã tróc. Trong khung không có ảnh. Chỉ có một tờ giấy hồng điều viết chữ Nho bằng mực tàu, dưới có dòng chữ quốc ngữ nhỏ: Huỳnh Thị Mão.

Tôi hỏi khung đó của ai. Anh Hoà gãi đầu.

"Bà nội tui đó. Bả mất hồi tui còn nhỏ xíu, nhà hổng có tấm hình nào. Ổng thờ dị mấy chục năm, khung trống."

Tôi thấy lạ. Một ông thợ ảnh cả đời chụp cho thiên hạ mà không có nổi một tấm ảnh của má mình. Tôi không hỏi thêm. Nhà người ta mới có tang.

Anh Hoà vô buồng, đem ra một cái túi da nâu đã mòn góc. Trong túi là một cái máy Zenit của Nga, thân sắt nặng trịch, vỏ da sần, nắp ống kính buộc bằng một sợi dây thun. Có thêm cái đèn flash rời, hai ống kính phụ, mấy cuộn phim chưa xài. Ở ngăn hông túi có cái gì cứng, lắc nghe lóc cóc như một hộp phim. Tôi định mở coi thì anh Hoà nói đó là đồ lặt vặt của ổng, để đó cũng được.

"Ổng dặn bán cho thợ ảnh, đừng bán cho mấy người mua đồ cũ. Hồi ổng còn sống, có người ở Quy Nhơn trả gấp ba mà ổng hổng bán."

Anh lấy của tôi tám trăm nghìn. Tôi nghĩ là rẻ. Lúc tôi xách túi ra cổng, anh Hoà đứng ở hiên nói với theo, giọng như nhớ ra chuyện gì:

"Chú em chụp đám thì chụp, mà đừng để máy ở nhà không nghen. Ổng dặn vậy đó."

Tôi gật đầu, tưởng anh nói chuyện kẻ trộm.

Đám đầu tiên tôi chụp bằng máy ông Tư là đám bà Lựu ở xóm Cây Me, Nhơn Hậu. Bà Lựu tám mươi mốt tuổi, mất vì già. Đám ở quê như mọi đám: rạp bạt xanh căng giữa sân, bàn thờ kê trước quan tài, kèn đám thổi bài Nam ai rồi bài Lưu thuỷ. Mùi nhang trầm lẫn mùi khói bếp nấu cơm cho người đi đám. Con cháu đội khăn tang trắng đứng hai bên.

Máy phim khác máy số. Không coi lại được, chụp tấm nào biết tấm đó. Tôi phải canh sáng bằng cái kim nhảy trong ống ngắm, vặn lấy nét bằng tay. Hết một cuộn ba mươi sáu kiểu, tôi lấy tay quay ngược cho cuộn phim chạy về hộp, nghe tiếng rè rè trong lòng máy. Cái máy nặng mà chắc tay. Tôi thích nó ngay.

Chiều hôm sau tôi lấy ảnh ở tiệm Kim Long dưới Đập Đá. Cô Hạnh chủ tiệm đưa tôi xấp ảnh còn ấm mùi thuốc.

Tôi ngồi ở yên xe coi từng tấm. Ảnh ra đẹp hơn tôi tưởng, màu hơi ngả vàng, nhìn như ảnh nhà người ta cất trong rương. Tấm thứ mười mấy là cảnh di quan, đám con cháu khiêng quan tài ra ngõ, sau lưng họ là hàng tre và cái bờ rào dâm bụt.

Ở góc trái tấm đó, chỗ khe hở giữa hai bụi tre, có một bà cụ đứng.

Bà nhỏ người, mặc áo bà ba đen, quần đen, đầu bới tóc. Bà đứng hơi nghiêng, vai trái thấp hơn vai phải, mặt quay về phía ống kính nhưng mờ, chỉ là một vệt xám. Bà đứng xa, sau cả đám đông. Hôm đó tôi đứng ngay trước khe hở ấy mà chụp, tôi nhớ rõ: chỗ đó là lối con nít chui ra chui vô, không có ai.

Tôi lật mấy tấm sau. Bà cụ có mặt thêm ở tấm cúng hạ huyệt, đứng ở rìa ruộng mía phía sau mộ. Lần này gần hơn một chút. Ngay trước bà, cách một sải tay, là thằng Thành, cháu nội bà Lựu, mười chín tuổi, đội khăn tang, đang cúi đầu.

Tôi nói với mình là người trong xóm đi coi đám. Ở quê đám nào chẳng có vài bà cụ đứng ngoài bờ rào.

Tối hôm đó tôi đang ăn cơm thì thằng Tín gọi điện. Nó nói thằng Thành cháu bà Lựu sáng nay ôm xe ra quốc lộ, đâm vô đuôi xe tải ở khúc Bà Di, gãy xương đòn, đang nằm ở bệnh viện huyện. Nó định đi Sài Gòn làm thợ hồ, chuyến xe đò sáng nay.

Tôi đặt chén xuống. Trên bàn, chỗ cạnh nồi cơm, xấp ảnh đám bà Lựu đang nằm úp. Tôi không nhớ mình đã úp nó lại.