Chương 8: Ô phim cuối cùng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tối đó về tới nhà, việc đầu tiên tôi làm là mở cái ngăn hông túi da.
Trong ngăn có một cái hộp phim Kodak bằng nhựa đen, nắp xám, quấn một vòng băng keo giấy. Trên băng keo có một chữ viết bằng bút bi, nét run như chữ người già cầm bút lúc tay lạnh: "Má." Dưới chữ là một ngày tháng Tám năm 2009. Ngày ông Tư mất.
Tôi gọi cho anh Hoà. Anh im một lúc rồi nói anh nhớ ra rồi. Sáng hôm đó anh dậy thấy ba ngồi trên ghế bố ngoài hiên, đầu ngả ra sau, cái máy trong lòng, ống kính chĩa ra sân. Người đã lạnh. Anh thấy máy còn phim, quay ngược lại, bỏ vô hộp, nhét ngăn túi, tính rửa sau. Rồi đám tang, rồi cúng thất, anh quên mất.
"Ổng ngồi đó nguyên đêm. Tui ngủ trong buồng, hổng hay chi hết."
Sáng hôm sau ba người chúng tôi ở trong buồng tối nhà Kim Long: tôi, anh Hoà, cô Hạnh. Cô Hạnh nói phim màu thì phải đưa vô máy, nhưng cô không muốn để máy tự làm. Cô tráng tay, từng bước, tự cầm đồng hồ. Tôi đứng sát cửa, tay đặt trên chốt. Anh Hoà đứng giữa, không nói một lời.
Không có gì xảy ra. Vòi nước nhỏ giọt đều. Mùi thuốc chua chua như cũ.
Cô Hạnh treo dải phim lên dây phơi, bật đèn trắng. Chúng tôi đứng nhìn. Ba mươi lăm ô đầu gần như giống nhau. Cái sân đất nhà ông Tư lúc đêm, hàng tre đen, cái cổng gỗ, một mảng trời. Không có ai.
Có ô chụp lúc trăng chưa lên, chỉ một màu đặc. Có ô chụp lúc gà gáy, trời bắt đầu xám. Ông đã ngồi đó cả đêm, cứ một lúc lại bấm một kiểu vào khoảng sân trống.
Ô thứ ba mươi sáu thì khác.
Cô Hạnh in tấm đó bằng máy, khổ hai mươi nhân ba mươi. Lúc tấm ảnh trượt ra khay, không ai đưa tay lấy. Cuối cùng là anh Hoà cầm lên.
Một bà cụ đứng giữa sân, cách ống kính chừng ba bước. Áo bà ba đen mới, còn thấy nếp gấp. Tóc bới gọn, cài một cây trâm bằng sừng. Hai bàn tay khô, khớp ngón to, chắp trước bụng. Vai trái vẫn thấp hơn vai phải. Nhưng bà đứng thẳng người, mặt nhìn thẳng vào ống kính, nét rõ tới từng nếp nhăn ở khoé mắt. Gò má cao, miệng móm, hơi mím lại như người cố không cười mà không được.
Sau lưng bà, trời phía đồng vừa ửng.
Anh Hoà nhìn tấm ảnh rất lâu. Rồi anh nói bà nội anh đó, anh nhớ ra cái mặt rồi. Giọng anh vỡ ở giữa câu.
Tôi đem tấm ảnh về cho má coi. Má đang ngồi tập bóp trái banh cao su ở hiên. Má cầm tấm ảnh bằng tay phải, ngó một hồi.
"Bà này đó. Bà hỏi thằng Lộc. Bà ngồi đỡ đầu má ở bếp."
Má trả tấm ảnh lại, rồi kéo tay tôi xuống ngồi cạnh. Má không nói gì nữa, chỉ ngồi vậy.
Rằm tháng Mười, nhà anh Hoà làm một mâm cúng. Không mời thầy, chỉ có anh Hoà, vợ con anh, bà Năm, tôi, thằng Tín chống nạng. Anh Hoà gỡ tờ giấy hồng điều ra khỏi cái khung gỗ cũ, lồng tấm ảnh vào, dựng cạnh tấm ảnh ông Tư. Tờ giấy ghi tên, anh gấp lại, nhét sau lưng khung.
Bà Năm đứng trước bàn thờ, chắp tay, khấn nhỏ. Tôi nghe được câu cuối.
"Má, có hình rồi đó. Anh Lộc chụp đó. Má về ăn bánh."
Chiều đó chúng tôi ra gò cát sau xóm, nơi có mộ bà Mão và mộ ông Tư nằm cạnh nhau. Mộ ông còn mới, đất chưa lún. Tôi đặt cái bánh ít má giữ hơn một tháng lên mộ bà, đúng chỗ đầu mộ. Anh Hoà đốt một nắm nhang cắm chia hai bên.
Còn cái máy, anh Hoà quyết rồi. Không chôn, không bán. Để trên bàn thờ, giữa hai tấm ảnh, tháo phim, mở nắp ống kính. Anh nói ba anh ngồi cả đời sau cái máy, giờ cho ổng ngồi trước nó.
Trước khi trao máy lại, anh nhờ tôi chụp một cuộn cuối, cho nhà một tấm chung trước mộ. Tôi chụp. Cả nhà đứng thành hàng, bà Năm ngồi ghế đẩu ở giữa. Tôi lùi ra xa để lấy cả hai ngôi mộ, lấy cả dải cát trắng phía sau và hàng phi lao. Tôi bấm hết ba mươi sáu kiểu rồi quay phim về hộp, trả máy.
Má tôi bỏ sạp xôi từ đó. Tôi dời tiệm ảnh về trước nhà, kê cái tủ kính ngay hiên, chỗ ngồi trong nhà thấy được má. Tôi vẫn chụp đám, nhưng đám nào xa phải ngủ lại thì tôi không nhận. Thằng Thành ở lại làm thợ lò gạch ở Nhơn Hậu. Chân thằng Tín lành, nó vẫn cầm đèn cho tôi tới tận bây giờ. Cô Hạnh dẹp buồng tối, cái máy phóng đem cho một trường nghề.
Cuộn phim cuối tôi rửa ở Kim Long một tuần sau lễ. Ba mươi lăm tấm bình thường. Tấm cuối cùng tôi bấm lúc đã hạ máy xuống, ngón tay vô ý chạm, nên nghiêng hẳn một bên.
Trong tấm đó không có người nhà anh Hoà. Chỉ có hàng phi lao, dải cát, và ở mép xa nhất, hai cái bóng nhỏ đang đi về phía đồng. Một ông già gầy, vai đeo cái túi da. Một bà cụ đi bên cạnh, hai tay không.
Tôi soi kính lúp mấy lần mới chắc. Bà không còn đứng nghiêng nữa. Bà đi thẳng lưng, hai vai ngang nhau, như người vừa đặt được gánh xuống.
Tấm đó tôi để trong ngăn kéo tủ kính, dưới xấp hoá đơn. Má coi một lần, rồi biểu tôi cất đi.
Tối nào dọn tiệm, tôi cũng mở ngăn kéo đó ra, rồi mới khoá.