Truyện Ma Có Thật
← Ca nô mùa nước lên

Chương 10: Gác lửng xóm Cồn

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Xóm Cồn nằm trên một doi đất thấp kẹp giữa hai nhánh sông, cách nhà văn hoá chừng ba cây số đường chim bay. Ngày thường đi xe máy mười phút. Đêm đó, Mạnh bảo phải đi vòng, men theo những hàng cây và mái nhà để tránh dòng chính, mất ít nhất bốn mươi phút.

Lúc ca nô vừa rời chân gò, có tiếng vỗ cánh phành phạch. Con gà tía từ trên hiên bay xuống, đậu ngay trên nắp hộp đạn ở mũi thuyền, xù lông lên vì mưa. Không ai còn thời gian bắt nó trả lên.

Trời tối đặc. Không trăng, không sao, không một ánh đèn nào trên mặt nước, vì cả vùng này đã cắt điện từ chiều. Chỉ có hai luồng sáng, cái đèn pha nhỏ gắn ở mũi ca nô và cái đèn pin trên mũ tôi.

Mạnh không nói gì từ lúc rời nhà văn hoá. Không một câu dặn dò, không một câu đùa. Anh chỉ lái, mắt nhìn thẳng. Tôi tưởng anh đang tập trung. Tôi cũng không dám làm phiền.

Nước dưới thân thuyền đen như mực. Lâu lâu đèn rọi qua một vật gì trôi, một cái thùng, một bó củi, một cái bàn gỗ lật ngửa. Chân tôi lại cứng lại. Tôi nhớ lời anh.

Ngó bờ, đừng ngó nác. Tôi ngẩng lên, tìm những ngọn tre, những mái nhà, những cột điện mà luồng đèn chạm tới. Tôi đếm chúng. Một cột. Hai cột. Một mái tôn. Một rặng tre.

Nó có tác dụng. Chân tôi mềm ra. Tôi muốn nói với anh điều đó, nhưng anh vẫn im lặng.

Điện thoại tôi để ở chế độ loa ngoài, treo trên cổ trong túi chống nước. Chị Thúy gọi lại mỗi mười phút.

"Hắn đau cách mấy phút một lần rồi?"

Tôi gọi cho chị Hằng, hỏi, rồi gọi lại cho chị Thúy. Năm phút một lần. Rồi bốn phút. Pin điện thoại chị Hằng còn mười hai phần trăm.

Bốn mươi lăm phút sau, Mạnh giảm ga. Luồng đèn rọi vào một ngôi nhà mái tôn đỏ, tường quét vôi xanh. Nước đã ngập ngang khung cửa sổ tầng dưới. Phía trên, chỗ gác lửng, có một ô cửa sổ gỗ nhỏ đang hé, bên trong có ánh sáng vàng yếu ớt của một cây nến.

"Chị Hằng ơi! Tụi em tới rồi!"

Một cái đầu trẻ con ló ra ô cửa sổ, tóc cắt ngắn, mắt to tròn. Thằng bé nhìn xuống chúng tôi, rồi quay vào trong gọi to.

"Mạ ơi, có người đội đèn tới!"

Mạnh cho ca nô áp sát tường, buộc dây vào song cửa sổ. Ô cửa nhỏ, vừa một người lách qua. Anh đẩy tôi lên trước. Tôi lách người vào, đầu gối đập vào bậu cửa đau điếng.

Gác lửng là một khoảng sàn gỗ thấp, cao chưa tới một mét sáu, tôi phải cúi đầu. Trên đó chất đầy bao lúa, chăn màn, nồi niêu chạy lũ. Ở giữa, trên một tấm chiếu, một người phụ nữ chừng ba mươi tuổi nằm nghiêng, hai tay bấu vào bao lúa, mặt đẫm mồ hôi, môi cắn chặt.

"Em là Thư. Chị Thúy bảo em tới."

Chị Hằng gật đầu, không nói được. Một cơn đau tới. Chị rên lên, người co lại như con tôm. Thằng bé bốn tuổi ngồi ở góc, ôm con gấu bông, nhìn mẹ, mắt ầng ậng nước.

Mạnh lách vào sau tôi. Anh nhìn quanh một vòng, rồi cúi xuống nhìn qua mép sàn gác. Tôi nhìn theo. Dưới kia, mặt nước đen bóng, phản chiếu ánh nến, chỉ cách sàn gác chừng một gang tay.

"Nác còn lên." Anh nói nhỏ, chỉ đủ cho tôi nghe. "Một tiếng chừng mười phân."

Tôi bật loa điện thoại. Chị Thúy ở đầu dây bên kia hỏi dồn dập. Nước ối vỡ chưa. Ra máu không. Đau cách mấy phút. Có muốn rặn chưa.

Tôi hỏi chị Hằng từng câu. Chị gật, lắc, gật. Nước ối vỡ từ chiều. Không ra máu nhiều. Đau ba phút một lần. Muốn rặn.

Chị Thúy im lặng một giây.

"Không chuyển đi được nữa đâu, em. Trên ca nô mà sinh giữa dòng thì còn nguy hơn. Đứa thứ hai thì nhanh lắm. Em với thằng Mạnh đỡ đi. Chị chỉ cho."

Tôi nhìn Mạnh. Mạnh nhìn tôi. Trong ánh nến, mặt anh vàng vọt, mắt thâm quầng, nhưng anh không lảng đi nữa.

"O biết chi không?"

"Tôi chưa từng thấy ai đẻ cả."

"Tui cũng chưa. Tui đỡ đẻ cho bò rồi."

Câu đó lẽ ra phải buồn cười. Nhưng không ai cười. Chị Hằng lại rên lên, lần này dài hơn, to hơn.

Chị Thúy bắt đầu chỉ. Nước sôi, phải có nước sôi. Mạnh lục trong đống nồi niêu, tìm ra cái bếp ga mini và hai bình ga. Anh nấu nước. Kéo, phải có kéo sạch, đem luộc. Khăn sạch, càng nhiều càng tốt. Chỉ hoặc dây sạch để buộc rốn.

Tôi lục trong đống chăn màn, tìm được mấy cái khăn tắm và bộ quần áo sơ sinh chị Hằng đã chuẩn bị sẵn trong một cái túi nhựa. Tôi tìm được cuộn chỉ may trong hộp kim chỉ. Tôi đưa cho Mạnh cái kéo, anh thả vào nồi nước đang sôi.

Cây nến lắc lư. Gió lùa qua ô cửa sổ, ánh lửa ngả nghiêng rồi phụt tắt.

Gác lửng chìm vào bóng tối. Thằng bé ở góc khóc thét lên.

Tôi bật cái đèn trên mũ. Luồng sáng trắng rọi thẳng xuống tấm chiếu. Chị Hằng nhắm mắt lại vì chói, rồi mở ra, nhìn tôi.

"Đừng tắt. O đừng tắt đèn."

"Em không tắt."

Mạnh đi tới góc gác, ngồi xuống cạnh thằng bé, ôm nó vào lòng, quay mặt nó vào ngực mình. Anh bảo nó kể cho anh nghe con gấu bông tên gì. Thằng bé nức nở, bảo tên là Bông.

Rồi Mạnh cúi xuống nhìn qua mép sàn một lần nữa. Khi anh ngẩng lên, tôi biết ngay.

Nước đã chạm vào mép sàn gác. Một vệt đen loang dần vào mép tấm chiếu cói, lan về phía chỗ chị Hằng nằm.

Đúng lúc đó, chị Hằng nắm chặt cổ tay tôi, đúng chỗ vết dây hằn, đau điếng.

"Ra rồi. Hắn ra rồi o ơi."