Chương 14: Bùn sau lũ
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Nước rút chậm như khi nó lên. Mỗi ngày một gang tay, để lại trên mọi bức tường một vệt bùn nâu, cao hơn đầu người. Đến ngày hai mươi hai, đường về thị trấn đã lộ ra, nhưng lớp bùn trên mặt đường dày tới mắt cá, dẻo quánh, giẫm vào là mất dép.
Tôi đi đôi ủng cao su của đội. Đôi dép tổ ong đen đã mất trên mái trường tiểu học.
Tôi không có thời gian để nghĩ. Đội kỹ thuật làm việc từ năm giờ sáng tới mười giờ đêm. Từng trạm biến áp phải kiểm tra, sấy khô, đo cách điện trước khi đóng điện lại. Từng tủ hạ thế bùn ngập tới nửa, phải tháo ra rửa từng con aptomat. Từng sợi dây bị cây đè, cột bị nghiêng, phải dựng lại. Tôi cầm cuốn vở kẻ ô, đánh dấu từng trạm một bằng bút đỏ khi nó sáng trở lại.
Trạm Đình Phú. Trạm Bàu Sen 1. Bàu Sen 2. Bàu Sen 3. Mỗi lần đóng điện, nghe tiếng máy biến áp ù lên, thấy bóng đèn trong một ngôi nhà bật sáng giữa đống bùn, tôi lại thấy mắt mình cay.
Ở nhánh hạ thế đi bờ bàu, tôi đề nghị tháo bỏ hẳn. Chú Hiếu ký ngay.
Còn Mạnh, tôi gần như không gặp. Hay đúng hơn, tôi gặp, nhưng anh không gặp tôi.
Ngày hai mươi ba, đội tôi đi qua bến Chè. Chiếc ca nô vỏ nhôm đã được kéo về, nằm lật ngửa trên bờ, móp một bên mạn. Mạnh đang ngồi xổm gõ búa vào chỗ móp. Tôi gọi to tên anh. Anh ngẩng lên, gật đầu một cái, rồi cúi xuống gõ tiếp. Không một câu nào.
Ngày hai mươi lăm, tôi mang hai gói mì tôm ra xưởng. Xưởng còn ngập bùn tới ngang bắp chân, đồ nghề bày la liệt ra ngoài phơi nắng. Chiếc dép đỏ vẫn treo trên đinh trên cửa, giờ bám một lớp bùn khô. Mạnh không có ở đó. Một ông cụ đang ngồi rửa máy bảo anh đi Đồng Hới mua phụ tùng.
Tôi để hai gói mì trên bàn, rồi về.
Ngày hai mươi bảy, mạ Lài gửi cho tôi một cái túi qua anh Tâm. Trong túi là cái đèn pin đội đầu của tôi, cái đã chết hẳn trên nóc bồn nước. Nó đã được lau sạch, thay ba viên pin mới, dây chun được khâu lại chỗ bị rách. Không có thư, không có lời nhắn.
Tôi bật thử. Nó sáng trắng, mạnh như mới.
Tôi ngồi trên giường trong phòng tập thể, cầm cái đèn, không hiểu gì cả. Người ta không thay pin cho đèn của người mình giận. Nhưng người ta cũng không trả đồ qua người khác nếu người ta không tránh mặt.
Tôi kể cho mẹ nghe qua điện thoại, kể hết, trừ chuyện trên mái trường. Kể chuyện bé Đèn, chuyện con gà, chuyện cái hộp đạn. Mẹ nghe, im lặng rất lâu.
"Con thương thằng đó à?"
Tôi không trả lời. Mẹ thở dài ở đầu dây bên kia.
"Mẹ biết rồi. Thế cái đơn con nói với mẹ hôm trước là vì nó à?"
"Không hẳn ạ. Con viết đơn vì con muốn thế. Nhưng mẹ đừng khóc."
Mẹ vẫn khóc. Rồi mẹ bảo mẹ sẽ suy nghĩ.
Ngày ba mươi, quyết định về tới điện lực huyện. Chú Hiếu đọc to trong cuộc họp giao ban buổi sáng, cả phòng vỗ tay. Chú bảo trưa nay cả đội ra bến Chè ăn cá kho nhà bà Lài mừng. Tôi đỏ mặt, ngồi nghe.
Trưa, ở bến Chè, chú Hiếu cầm tờ quyết định, đứng giữa quán, nói to cho cả chợ nghe.
"Quyết định của con Thư được duyệt rồi nghe bà con. Tỉnh ký rồi."
Mấy bà bán cá vỗ tay. Mấy ông đánh lưới cụng ly nước chè. Tôi nhìn quanh tìm Mạnh. Anh đứng ở cửa xưởng, cách quán chừng hai mươi bước, tay cầm cái cờ lê. Anh nghe thấy. Tôi thấy rõ anh nghe thấy.
Anh đứng yên một lúc. Rồi anh quay vào trong xưởng, kéo cánh cửa tôn sập xuống.
Tôi chạy tới. Cửa đã khoá trong. Tôi đập cửa, gọi tên anh. Không ai trả lời. Chỉ có tiếng con gà tía cục cục ở đâu đó đằng sau xưởng.
Bà Lài đi ra từ trong quán, lau tay vào tạp dề. Bà nhìn tôi, nhìn cánh cửa tôn, rồi kéo tôi ngồi xuống cái ghế nhựa đỏ, cái ghế tôi từng ngồi đợi anh sửa máy bơm.
"Hắn lên tàu ông chú họ đi biển. Tàu đánh cá ở Nhật Lệ. Sáng mai sáu giờ tàu ra khơi. Đi hai tháng."
"Đi biển ạ? Anh ấy sửa máy ghe mà."
"Thì đi làm thợ máy trên tàu. Ông chú kêu hắn mấy năm ni, hắn không đi. Chừ hắn đi."
Tôi nhìn bà. Bà nhìn tôi. Ánh mắt bà giống hệt hôm đầu ở nhà văn hoá, khi bà nhìn cái áo mưa cam trên người tôi.
"Hắn nói với tui, o viết đơn xin về Hà Nội rồi. Chú Hiếu gửi đi rồi. Tỉnh duyệt rồi. O về thì hắn ở đây làm chi cho buồn."
Tôi ngồi đó trên cái ghế nhựa đỏ, như bị ai đổ cả một xô nước lạnh lên đầu. Tôi nhớ lại ánh mắt anh dừng trên dòng chữ in hoa ở hiên nhà văn hoá. Câu "chúc mừng o" trên mái trường. Câu "tui không muốn nghe chừ". Cánh cửa tôn sập xuống.
Anh chỉ đọc được dòng tiêu đề. Anh chưa bao giờ đọc tới dòng thứ hai.
"Bác ơi, con không xin về Hà Nội."
Bà Lài nhìn tôi, mắt mở to, rồi nheo lại, rồi khoé miệng bà run run như sắp cười mà cố nhịn.
"Rứa thì o đi nói với hắn. Đừng nói với tui."
"Anh ấy khoá cửa rồi."
"Hắn khoá cửa trước. Cửa sau thì hắn đi ra rồi. Hắn đón xe khách đi Đồng Hới từ nãy. Tối ni ngủ trên tàu."