Truyện Ma Có Thật
← Ca nô mùa nước lên

Chương 2: Chuyến ca nô đầu tiên

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Cánh đồng Bàu Sen lúc đó không còn là cánh đồng. Nó là một mặt nước nâu mênh mông, lâu lâu mới nhô lên một ngọn tre, một mái lều canh vịt, một hàng cột điện bê tông đứng xiêu xiêu. Gió thổi ngang, mưa quất vào mặt rát như cát. Tôi ngồi co ro ở mũi, hai tay không dám buông mạn thuyền một giây.

Mạnh lái rất êm. Tôi phải công nhận điều đó, dù lúc đó tôi chỉ muốn ghét anh. Anh đọc mặt nước như tôi đọc sơ đồ. Chỗ nào có xoáy, chỗ nào có cọc rào ngầm, chỗ nào nước chảy ngược vì vướng bờ đê cũ, anh đều lượn tránh trước khi tôi kịp thấy.

Dưới chân tôi, sát mũi ca nô, có một cái hộp sắt sơn xanh rêu, góc cạnh, nắp có quai gập. Trên nắp còn dòng chữ số in nổi đã mòn gần hết. Tôi nhận ra nó là hộp đạn, loại hộp đạn cũ của bộ đội mà ông nội tôi cũng có một cái đựng đinh vít. Cái hộp được buộc chặt vào khung mũi bằng hai vòng dây thép.

Ca nô dập sóng, chân tôi trượt, đá vào cái hộp. Tôi cúi xuống định kéo nó sang một bên cho đỡ vướng.

"Đừng đụng vô cấy đó."

Giọng anh sắc lại. Tôi rụt tay như chạm phải bếp.

"Tôi chỉ định xếp lại cho gọn."

"Hắn gọn rồi. O ngồi yên cho tui."

Tôi ngồi yên. Tôi tự hỏi trong hộp đó có gì mà quý thế, tiền vàng hay rượu. Nhưng tôi không hỏi.

Trạm Bàu Sen 2 là một trạm treo, máy biến áp đặt trên giàn giữa hai cột, tủ điện hạ thế treo bên dưới. Nước đã lên gần chạm đáy tủ. Mạnh tắt máy, cho ca nô trôi chậm lại, rồi quăng dây buộc vào một cái móc trên cột. Ca nô dừng lại, rung nhẹ theo dòng.

Đến lúc này tôi mới thôi run. Đây là việc của tôi. Tôi đeo găng cách điện, kiểm tra cái sào thao tác, đứng lên, chân dạng ra cho vững. Ca nô lắc, Mạnh không nói gì, chỉ chống tay lên cột giữ cho thuyền đứng yên. Tôi đưa sào lên, móc vào khoen cầu chì tự rơi, kéo dứt khoát. Một pha, hai pha, ba pha.

Rồi tôi lấy bút thử điện chạm vào từng đầu cáp ra. Đèn không sáng. Tôi chụp ảnh tủ, ghi giờ cắt vào sổ, gọi điện báo về trực ban. Tất cả mất chưa đầy năm phút.

Khi tôi ngồi xuống, Mạnh nhìn tôi một lúc lâu. Lần này không nhếch mép.

"O làm nhanh hỉ."

"Đó là việc của tôi."

Tôi nói câu đó hơi kênh kiệu, nghe lại thấy mình như con công. Nhưng anh gật đầu thật, không có ý gì.

Trên đường về, trời tối nhanh hơn tôi tưởng. Mây đen sụp xuống, chưa tới năm giờ mà đã như chạng vạng. Tôi bật đèn pin trên mũ. Luồng sáng trắng xanh quét ra mặt nước, loang loáng.

Mạnh bật cười, tiếng cười đầu tiên tôi nghe từ anh.

"O đội đèn trên trốc như thợ mỏ than. Ở mô mua rứa?"

Tôi hiểu mỗi chữ "thợ mỏ" với "mua". Tôi đoán phần còn lại.

"Ở Hà Nội. Tiện lắm, rảnh cả hai tay."

"Rảnh tay để làm chi? Ngồi trên ca nô thì một tay bám, một tay ôm cấy sào. Còn tay mô nữa mà rảnh."

Tôi không cãi được. Tôi tắt đèn.

Anh nói nhiều hơn khi trời tối. Có lẽ vì không còn phải nhìn mặt tôi. Anh hỏi tôi ở Hà Nội chỗ mô, ăn chi, sáng ra có ăn bún không. Tôi trả lời từng câu một, nhưng một nửa số câu hỏi tôi phải đoán.

"Anh nói chậm lại được không? Tôi không hiểu."

"Tui nói chậm rồi đó. Chậm nữa thì tới mai."

"Thì anh nói giọng phổ thông đi."

"Tui nói giọng Lệ Thủy. Giọng ni là phổ thông ở Lệ Thủy."

Tôi im. Anh im. Một lúc sau anh nói gì đó về "nác lên tới trốc" và chỉ tay về phía làng. Tôi hiểu thành "nước lên tới chóp". Về sau tôi mới biết trốc là đầu. Nước lên ngang đầu người ở mấy xóm dưới trũng rồi.

Ca nô cập bến chợ Chè khi đèn đường đã bật. Tôi đứng dậy, bước lên tấm ván rêu, đúng chỗ chú Hiếu trượt chân buổi sáng. Tôi cẩn thận lắm rồi. Nhưng chân phải của tôi vẫn trượt.

Tôi ngã ngửa ra sau. Tôi thấy mặt nước nâu đen ngay dưới lưng, thấy chân mình cứng đơ như hồi sáu tuổi. Rồi một bàn tay túm chặt cổ áo phao của tôi, giật ngược lên. Tôi đập lưng vào ngực anh, hai người cùng loạng choạng rồi đứng vững trên bến.

Tim tôi đập như trống hội. Anh buông tay, thở ra một hơi dài.

"Đã nói rồi. Vớt người chớ không vớt dép."

Tôi nhìn xuống chân. Chân phải của tôi trần. Chiếc dép cao su đỏ bên phải đang trôi xa dần trên dòng nước, đỏ chót, nhấp nhô như con cá chép. Nó trôi qua mạn một chiếc ghe, khuất vào bóng tối.

Tôi đứng đó, một chân dép, một chân trần, mặt nóng ran. Mấy bà bán cá đã về hết, may quá. Mạnh nhìn chiếc dép trôi rồi nhìn tôi.

"O về đi. Mai mà nác lên nữa thì o mua dép khác. Mua đôi màu đen, đừng mua đỏ."

"Tại sao?"

"Đỏ thì cá tưởng mồi."

Tôi không biết anh nói thật hay đùa. Tôi cầm chiếc dép còn lại, đi chân đất về khu tập thể, hai mươi phút dưới mưa. Tối đó, tôi gọi cho mẹ, không kể chuyện suýt rơi xuống sông. Tôi chỉ kể là ở đây người ta nói khó hiểu quá.

Đêm, nằm nghe mưa trên mái tôn, tôi cứ nghĩ đến bàn tay túm cổ áo phao. Nó nhanh hơn cả cái ngã của tôi. Như thể anh đã đoán trước tôi sẽ ngã từ lúc tôi đứng dậy.

Sáng hôm sau, đài tỉnh đọc tin: lũ trên sông Kiến Giang đang xuống, nhưng một đợt áp thấp mới đang hình thành ngoài Biển Đông.