Truyện Ma Có Thật
← Ca nô mùa nước lên

Chương 8: Chết máy giữa dòng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Hơn ba giờ chiều, trời tối như bảy giờ tối. Mây đen sụp xuống thấp đến mức tưởng giơ sào lên là chạm. Mưa không còn là từng hạt mà là từng mảng, quất ngang theo gió.

Cái hộp đạn xanh rêu lại nằm ở mũi ca nô, buộc hai vòng dây thép, khoá đồng nhỏ. Tôi đoán hôm nước lên, anh đã ôm nó xuống từ cái kệ trong xưởng trước khi ôm bất cứ thứ gì khác. Tôi ngồi xếp chân sang một bên cho khỏi đụng vào nó.

Mạnh không lao thẳng qua sông. Anh cho ca nô ngược lên phía trên một đoạn dài, men theo mép làng nơi nước chảy chậm hơn. Rồi anh mới quay mũi, chếch xiên ra giữa dòng, để dòng nước đẩy ca nô trôi chéo dần sang bờ bên kia.

"Ra giữa dòng thì o ngồi thấp xuống. Bám chặt. Đừng đứng dậy, chi cũng đừng đứng dậy."

Tôi ngồi thấp xuống. Tôi bám chặt.

Dòng chính sông Kiến Giang không giống bất cứ thứ nước nào tôi từng thấy. Nó không chảy, nó lao. Mặt nước gồ lên thành từng lưng sóng ngắn, đục ngầu, nổi bọt. Những thân cây nguyên cả rễ trôi qua, quay vòng chậm chạp như những con thú khổng lồ. Một mái tôn nguyên tấm trượt qua cách mạn ca nô chưa đầy hai mét.

Ca nô gầm gừ, nghiêng sang một bên, dựng lên rồi đập xuống. Nước tạt vào mặt tôi tanh nồng mùi bùn. Tôi nhắm mắt, mở mắt, nhắm mắt.

Đến giữa dòng thì máy hụt hơi.

Một tiếng khục. Rồi một tiếng khục nữa. Máy rú lên một cái như người ho, rồi tắt.

Tiếng mưa bỗng to hẳn lên trong tai tôi. Không còn tiếng máy, chỉ còn tiếng nước. Ca nô xoay ngang, rồi bắt đầu trôi. Trôi nhanh. Trôi về phía hạ lưu.

Mạnh giật dây đề. Một lần, hai lần, ba lần. Máy không nổ. Anh giật lần thứ tư, mạnh đến mức cả ca nô chao đi. Không có gì.

Tôi nhìn theo hướng nước. Cách chúng tôi chừng hai trăm mét về phía dưới, có một cây cầu sắt nhỏ, mặt cầu chỉ còn nhô lên khỏi nước một gang tay. Trước thành cầu, rác và cây cối mắc lại thành một đống khổng lồ, nước dồn vào đó trắng xoá, gầm lên như thác.

Nếu ca nô trôi vào đó, nó sẽ bị dòng nước ép sát vào đống rác rồi lật. Tôi biết điều đó mà không cần ai nói.

"Bugi ướt rồi."

Mạnh nói câu đó không phải nói với tôi. Anh nhào lên mũi, chỗ cái hộp đạn. Tay anh run, gỡ dây thép không ra. Tôi mở hộp dụng cụ, chìa cái kìm cắt cáp cán đỏ. Anh cắt hai nhát, giật sợi dây thép ra, rồi lần sợi dây dù đeo trên cổ, rút ra một cái chìa khoá nhỏ.

Nắp hộp bật lên. Bên trong, mấy gói nilon trong được buộc chặt bằng chun. Một gói đựng ba cái bugi mới, sáng loáng. Một gói đựng cái tuýp mở bugi. Một gói nữa dẹt, bọc nhiều lớp, tôi không kịp thấy là gì thì anh đã gạt sang một bên.

Anh vồ lấy gói bugi và cái tuýp, lùi về đuôi, cúi xuống máy. Nhưng trời quá tối. Anh nheo mắt, quờ tay. Một tay anh phải bám đuôi ca nô cho khỏi văng, tay kia cầm tuýp, không còn tay nào cầm đèn.

Tôi giật cái đèn pin ra khỏi mũ bảo hộ. Tôi bò tới, quàng sợi dây chun qua đầu anh, kéo cái đèn xuống giữa trán, bật chế độ sáng nhất.

Luồng sáng trắng rọi thẳng xuống lốc máy. Anh khựng lại một nhịp, rồi hai tay anh làm việc.

Tôi không nhớ nổi anh làm gì, chỉ nhớ những âm thanh. Tiếng tuýp nghiến vào ren. Tiếng bugi cũ rơi xuống đáy thuyền. Tiếng anh thở.

Tiếng thác nước ở cây cầu mỗi lúc một gần. Tôi quay đầu lại nhìn. Cây cầu còn cách chừng một trăm mét. Rồi tám mươi. Rồi năm mươi.

"Mạnh ơi!"

Đó là lần đầu tiên tôi gọi tên anh không có chữ "anh". Anh không trả lời. Anh lắp xong cái chụp bugi, thẳng người dậy, đứng chân trên sàn ca nô đang lắc, nắm dây đề, giật.

Máy nổ.

Nó khục một cái rồi gầm lên, tiếng gầm đẹp nhất mà tôi từng nghe. Mạnh ngồi phịch xuống, vặn hết ga, bẻ lái gắt. Ca nô chồm lên, nghiêng sang một bên đến mức mạn trái gần chạm nước. Tôi nằm rạp xuống đáy thuyền.

Chúng tôi lướt qua đống rác trước cầu, gần đến mức tôi ngửi thấy mùi rơm mục, thấy rõ một cái ghế nhựa đỏ mắc trên một cành cây. Rồi ca nô thoát ra, chạy dọc theo thành cầu, vòng qua đầu cầu, vào vùng nước lặng hơn phía sau một bức tường gạch.

Mạnh tắt máy. Anh ngồi đó, hai tay buông thõng, ngực phập phồng. Cái đèn pin vẫn ở trên trán anh, rọi thẳng vào mặt tôi, chói lòa.

Tôi không nói gì. Tôi run từ đầu đến chân, răng va vào nhau lập cập. Không phải vì lạnh.

Anh tháo cái đèn ra, xoay xoay trong tay, nhìn nó như nhìn một món đồ lạ.

"Cấy đèn thợ mỏ của o..."

Anh ngừng lại một lúc.

"Được đó."

Tôi bật cười, tiếng cười lẫn tiếng nấc. Anh đưa trả cái đèn. Tay tôi run quá, cầm không nổi, rơi xuống đáy thuyền. Anh nhặt lên, tự quàng lại lên mũ bảo hộ của tôi, chỉnh cho ngay ngắn.

Hai mươi phút sau, chúng tôi tới trạm Bàu Sen 3. Tôi cắt cầu chì, thử điện, gọi về trực ban, tay đã thôi run. Ba nhà trên gác được báo đã an toàn.

Trên đường quay về, lần này men theo mép làng, tôi nhìn cái hộp đạn ở mũi thuyền. Anh đã đóng nắp lại, khoá lại, buộc lại bằng một sợi dây dù khác. Gói nilon dẹt kia vẫn nằm trong đó.

"Trong hộp còn có gì nữa vậy?"

Anh nhìn ra mặt nước một lúc lâu.

"Tối ni ngủ ở nhà văn hoá, rồi tui kể."