☾ Truyện Ma Có Thật
← Chén nước lèo trên tủ thờ

Chương 1: Hũ men trên tủ thờ

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi lên Mỹ Tho làm phụ bếp cho quán hủ tiếu của ông Ba Thạnh vào tháng Giêng năm 2015, sau khi rớt đại học lần thứ hai. Nhà tôi ở Chợ Gạo, má bán bánh lá dừa ngoài chợ, ba chạy xe lôi. Dì Tám Xuyến rửa chén cho quán là người cùng xóm, dì nói quán cần một đứa siêng, chịu ở lại quán. Tôi mười chín tuổi, siêng thì có, còn ở lại đâu ngoài nhà mình thì tôi chưa từng.

Quán nằm đầu một con hẻm ven sông Bảo Định, mặt tiền nhìn ra con đường nhỏ chạy dọc bờ kè. Bảng hiệu sơn chữ đỏ trên nền thiếc vàng: Hủ tiếu Thạnh Phát. Chữ Phát tróc mất nửa cái dấu sắc. Bên trong kê tám cái bàn inox, ghế nhựa đỏ chồng ở góc. Sau bếp có cái gác lửng bằng ván, tôi ngủ trên đó trong một cái mùng tuyn xanh lá.

Ông Ba năm đó năm mươi chín tuổi, người nhỏ, da nám, cánh tay nổi gân như sợi dây chạc. Ông nấu hủ tiếu từ hồi mười tám, nấu ở chợ cá, ở bến xe, rồi mới mướn được cái mặt bằng này. Dì Ba Lành, vợ ông, ngồi quầy thâu tiền, bán thêm nước ngọt với thuốc lá lẻ. Hai ông bà có thằng con trai học năm ba ở Sài Gòn, tháng nào cũng gọi điện xin tiền.

Quán ế. Tôi biết chuyện đó từ ngày thứ hai. Sáng nào ông Ba cũng hầm đầy nồi nước lèo năm chục lít: xương ống, khô mực nướng, tôm khô, củ cải trắng, đường phèn. Nước trong như nước trà, ngọt tới cuống họng. Vậy mà tới trưa nồi vẫn còn hơn nửa. Khách đi ngang nhìn vô một cái rồi chạy thẳng qua quán bà Hai Mập đầu cầu, chỗ đó có máy lạnh với wifi.

Chiều nào ông Ba cũng ngồi trên cái ghế đẩu cạnh tủ thờ Thần Tài, nhìn ra đường, tay vân vê một điếu thuốc không đốt. Tủ thờ đóng bằng gỗ, sơn đỏ, đặt sát đất, trong có Ông Địa bụng phệ cười và Thần Tài cầm thỏi vàng. Cây đèn điện hình trái đào bật suốt ngày đêm. Mỗi sáng dì Ba thay ly nước, cúng năm trái quýt, rót một ly cà phê đen.

Đầu tháng Ba, ông Ba đóng quán ba ngày. Ông nói đi Châu Đốc viếng Bà. Dì Ba không đi theo, ở nhà chiên cơm cho tôi với dì Tám ăn, mặt lầm lì. Tối ngày thứ ba ông về bằng xe đò, tay ôm một cái giỏ mây nhỏ có nắp, ôm sát bụng như ôm con mới đẻ.

Trong giỏ là một cái hũ men xanh lam, cỡ trái bưởi non, cổ thắt, miệng bít bằng một lớp sáp ong vàng sậm. Men hũ rạn chân chim, dưới đáy có một vết mẻ bằng cái móng tay. Ông Ba đóng một cây đinh lên xà nhà ngay trên tủ thờ, treo cái giỏ lên đó. Cái hũ lơ lửng cách nóc tủ chừng một gang tay.

Dì Ba đứng dưới nhìn lên, hỏi nhỏ:

"Ông mua cái gì dzậy ông?"

"Bà đừng hỏi. Thầy dặn hổng được nói."

Ông quay qua tôi với dì Tám. Giọng ông khàn, chậm, như người mới khóc xong, mà tôi biết ông không khóc.

"Từ mai, sáng nào tao cũng múc chén nước lèo đầu nồi để lên nóc tủ. Tụi bây không đứa nào được múc thay, không đứa nào được đụng cái chén đó. Thấy chén cạn cũng đừng hỏi."

Cái chén ông lấy ra từ trong giỏ, gói trong tờ báo cũ. Chén sứ trắng, viền xanh, vẽ một cành trúc, miệng chén sứt một miếng hình tam giác. Tôi nghĩ ông mua đồ cũ, người ta đưa kèm cho đủ bộ. Dì Tám nhìn cái chén, môi mím lại, không nói tiếng nào.

Trước khi về, ông Ba lau cái chén bằng khăn sạch, đặt ngửa trên nóc tủ thờ, ngay dưới đáy hũ. Chén trống. Ông đứng nhìn nó một lúc lâu, rồi kéo cửa sắt xuống cho tôi khoá.

Tối đó tôi ngủ trên gác như mọi tối. Ông bà Ba về nhà riêng trong hẻm, quán chỉ còn mình tôi. Cửa sắt khoá hai ổ. Bếp tôi tắt, van gas tôi khoá, nồi nước lèo còn phân nửa tôi đậy nắp để mai ông Ba hâm lại.

Giữa khuya tôi thức dậy vì mùi. Mùi hồi, mùi quế, mùi xương hầm, đậm như lúc ông Ba vừa nêm xong. Rồi tôi nghe tiếng sôi. Không lớn, lục bục, từng bọt từng bọt vỡ dưới nắp nồi, như có ai vặn lửa liu riu.

Tôi nằm im trong mùng. Tôi nhớ chắc là mình đã khoá van gas, khoá luôn cái van phụ dưới bình. Tiếng sôi vẫn đều. Ngoài sông có chiếc ghe máy chạy ngang, xa dần, rồi chỉ còn tiếng sôi.

Tôi không dám xuống. Tôi kéo mền trùm đầu, đếm từ một tới một trăm, đếm lại, tới lúc ngoài khe cửa sắt hửng sáng thì ngủ quên lúc nào không biết.

Sáng ra tôi xuống bếp trước khi ông Ba tới. Van gas vẫn khoá. Bếp lạnh ngắt. Nhưng tôi đặt tay lên thành nồi thì nồi còn ấm, ấm như cái ghế người ta vừa đứng dậy. Mặt nước lèo hạ xuống chừng một lóng tay so với vạch mỡ đóng trên thành nồi tối qua.

Tôi ngước lên tủ thờ. Cái chén sứ viền xanh vẫn nằm ngửa dưới đáy hũ, khô queo. Nhưng không còn sạch như lúc ông Ba lau. Trong lòng chén có một lớp váng mỡ mỏng đã đông, và chỗ miệng sứt có một vệt cong cong, như dấu môi ai vừa kề vào uống.