Chương 2: Khách về như nước lớn
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi không kể với ai chuyện cái nồi. Sáng đó ông Ba tới, vặn bếp, hâm nồi nước lèo, rồi làm đúng như ông dặn. Lúc nước vừa lăn tăn, ông lấy cái chén sứ trên nóc tủ xuống, lau bằng vạt áo, múc một vá đầy. Ông đứng lên ghế đẩu, hai tay đặt cái chén ngay dưới đáy hũ, miệng lầm thầm cái gì tôi nghe không rõ.
Bảy giờ sáng hôm đó, quán có mười một khách. Tới chín giờ, tôi trụng hủ tiếu không kịp, phải kêu dì Tám bỏ thau chén chạy lên phụ. Tới trưa, nồi năm chục lít cạn sát đáy, ông Ba phải bắc thêm nồi phụ, cho xương vô hầm vội.
Tôi tưởng chỉ là một ngày may. Ngày hôm sau cũng vậy. Ngày hôm sau nữa đông hơn.
Hết tuần đầu, ông Ba mướn thêm anh Tài, người Gò Công, ba mươi tuổi, bưng bê với dọn bàn. Ông mua thêm sáu cái bàn inox, kê ra sát mé lề, lấn cả qua phần bờ kè. Dì Ba ngồi quầy đếm tiền mỏi tay, tối nào cũng gói một xấp năm chục, một trăm vô bịch ni lông, nhét trong áo ngực mang về.
Khách lạ đông, nhưng tôi để ý khách quen hơn. Mỗi người một kiểu, mà kiểu nào cũng quay lại.
Chú Hai Lựu chạy xe ôm ở đầu cầu, năm mươi mấy tuổi, đội cái nón bảo hiểm có in hình ngôi sao. Chú ăn hủ tiếu nước, thêm tim gan, không giá. Sáng ăn một tô, trưa ghé ăn tô nữa, chiều tạt vô kêu chén nước lèo không. Chú nói với ông Ba:
"Hổng biết sao nghen, ăn chỗ khác tui nuốt hổng vô."
Cô Diệp dạy văn ở một trường cấp hai gần chợ, chừng hai mươi lăm, đeo kính gọng đỏ, đi xe đạp điện. Cô ăn hủ tiếu khô, trộn đều, chan riêng một chén nước lèo để kế bên. Cô húp chén nước lèo trước, húp từng muỗng nhỏ, mắt lim dim như người nghe nhạc.
Anh Năm Đen sửa ghe ở xưởng dưới vàm, người đen như đít nồi, tay lúc nào cũng dính dầu nhớt. Anh ăn hai tô một lần, tô thứ hai không cần thịt, chỉ cần nước. Bà Tư bán vé số thì không có tiền ăn, ông Ba cho bà một chén nước lèo với ít sợi hủ tiếu vụn. Bà ngồi ngay bậc cửa mà húp, húp xong ngồi hoài không đi.
Ông Ba lên giá hai lần trong tháng Tư. Từ hai lăm ngàn lên ba chục, rồi ba lăm. Không ai than. Có bữa khách đứng chờ bàn ngoài lề, nắng chang chang, cũng không ai bỏ đi.
Ban đêm thì nồi vẫn sôi.
Tôi tập ngủ với cái radio nhỏ của ba cho. Tôi vặn đài tiếng Việt, nghe cải lương, nghe người ta đọc truyện, vặn nhỏ vừa đủ để không phải nghe tiếng lục bục dưới bếp. Nhưng mùi thì không vặn nhỏ được. Hồi, quế, xương hầm, ngọt lựng, len qua ván gác, len vô mùng, có đêm tôi nằm mà bụng cồn cào như chưa ăn gì từ sáng.
Sáng nào cái chén trên nóc tủ cũng cạn. Đáy chén khô, chỉ còn lớp váng mỡ mỏng, với cái vệt cong ở miệng sứt. Ông Ba lấy xuống, lau sạch, múc chén mới. Ông không nhìn tôi. Tôi cũng không hỏi.
Có một chuyện tôi để ý mà không dám nói. Ông Ba nêm nước lèo ngày càng mặn.
Hồi tôi mới vô, ông nêm bằng cái muỗng nhôm nhỏ, nếm, thêm chút đường phèn, nếm nữa, gật gù. Bây giờ ông nêm bằng tay, bốc nắm muối hột thả vô nồi, nếm, rồi bốc thêm nắm nữa. Một bữa ông đưa cái vá cho tôi:
"Nếm coi, vừa chưa con?"
Tôi nếm. Mặn đắng đầu lưỡi. Tôi nói nhỏ là mặn rồi chú. Ông nhíu mày, nếm lại, lắc đầu.
"Mặn đâu mà mặn. Lạt nhách."
Vậy mà khách không chê. Chú Hai Lựu húp sạch tới giọt chót. Cô Diệp vẫn lim dim với chén nước lèo của cô.
Tới giữa tháng Năm, tôi bắt đầu thấy mặt khách quen khác đi.
Chú Hai Lựu vô quán, ngồi xuống, tháo nón ra, tôi thấy quầng mắt chú thâm như ai lấy ngón tay quẹt lọ nồi. Da chú vốn đen sạm nắng, giờ đen mà tái, như trái chuối để lâu. Anh Năm Đen ít nói hẳn, ăn xong ngồi nhìn tô không, nhìn tới khi anh Tài tới dọn mới giật mình. Bà Tư vé số ngủ gục ngay bậc cửa, xấp vé số trong tay rơi xuống lề, gió thổi bay mấy tờ.
Cô Diệp gầy đi thấy rõ. Cái kính gọng đỏ trễ xuống sống mũi, cô đẩy lên hoài. Cổ tay cô nhỏ lại, chiếc vòng nhựa màu cam cô đeo từ hồi Tết giờ lỏng lẻo, tuột tới mu bàn tay.
Có bữa cô ăn xong, kêu tôi lại tính tiền, rồi hỏi:
"Ngân nè, quán em nêm gì vô nước lèo vậy? Chị ăn xong về nằm, tối chiêm bao thấy mình đang húp. Thức dậy miệng còn ngọt."
Tôi nói cô hỏi chú Ba, con chỉ trụng hủ tiếu. Cô cười, nụ cười mệt.
Chiều thứ Sáu cuối tháng Năm, trời oi, mây xám vón lại trên sông. Quán đông nghẹt lúc tan trường. Cô Diệp vô, ngồi bàn sát tủ thờ như mọi bữa, kêu một tô khô, một chén nước lèo.
Tôi bưng ra. Cô húp chén nước lèo, húp tới nửa thì cái muỗng rớt xuống bàn inox, kêu một tiếng chát chúa. Cô gục xuống, má áp lên mặt bàn, mắt còn mở.
Anh Tài với tôi đỡ cô dậy. Mặt cô xanh như tàu lá chuối non, môi trắng bệch, tay lạnh ngắt dù trời hầm hập. Dì Ba chạy ra cạo gió, dì Tám chạy đi mua chai dầu. Người trong quán đứng dậy hết, vòng trong vòng ngoài.
Cô Diệp mở mắt. Cô không nhìn ai. Cô nhìn chén nước lèo còn phân nửa trên bàn, giọng thều thào:
"Cho em… thêm chén nữa. Em húp chưa hết."
Tôi ngước lên nóc tủ thờ. Cái hũ men xanh treo lơ lửng trong giỏ mây, đứng yên, không có gió nào thổi tới. Vậy mà sợi dây mây treo nó đang xoay, xoay rất chậm, như có ai vừa ngoảnh mặt lại nhìn xuống đám đông.