Chương 11: Chén nước lèo cuối
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Chúng tôi đón chuyến xe đầu tiên về Mỹ Tho. Ông Chín dặn nước đầu nồi phải là nước của chính cái nồi đó, chính tay chủ múc.
Quán khoá cửa sắt như tôi khoá. Bếp tắt. Nhưng cái nồi năm chục lít cạn trơ đáy, đáy nồi cháy một lớp đen bóng như sơn mài, mà hôm đi tôi đã đổ sạch nồi, úp lên kệ. Trên bậc cửa trước quán có mười bốn cái chén xếp thành hàng. Chén sành, chén nhựa, chén kiểu, cái nào cũng của nhà ai đó, cái nào cũng trống.
Chú Hai Lựu nói khách đứng tới gần sáng thì tản ra, đi như người mộng du. Anh Năm Đen nói đêm qua anh ngủ ở nhà, chiêm bao thấy mình đứng xếp hàng.
Ông Ba lượm từng cái chén, rửa sạch, xếp vô một cái thúng. Ông nhờ chú Hai Lựu đem trả từng nhà.
Rồi ông nấu nồi nước lèo cuối cùng.
Ông nấu kỹ như hồi tôi mới vô quán, nhưng ông không biết nêm. Ông đưa vá cho tôi. Tôi nếm, thêm chút muối, chút đường, nếm nữa, tới khi nước ngọt thanh tới cuống họng. Ông đứng nhìn tôi nêm, mắt đỏ hoe.
Khi nước vừa gợn vòng tròn nhỏ, ông múc vá đầu tiên. Ông không đổ vô chén. Ông đổ vô cái bình thủy tôi rửa sẵn, vặn nắp thiệt chặt.
Sáng hôm sau, chúng tôi đi xe đò xuống Vĩnh Long, đón xe ôm vô Trà Ôn, rồi qua một con đò ngang. Bên kia sông là sóc. Đường đất đỏ, nhà sàn thấp, hàng thốt nốt dọc bờ ruộng. Mái chùa cong vút, vàng và đỏ, nổi lên trên đám cây.
Chùa Kôk Prich nhỏ hơn tôi tưởng, sân cát trắng, mấy chú tiểu đắp y vàng đang quét lá. Sau chánh điện có cái tháp cốt sơn trắng đã bong, chân tháp có cánh cửa gỗ nhỏ khoá ổ đồng.
Ông achar coi chùa tên Sơn Thươl, bảy mươi mấy tuổi, mặc áo trắng, khăn choàng vắt vai. Ông nói tiếng Việt chậm, lơ lớ. Ông nhìn cái hũ men xanh trong thùng giấy, gật đầu một cái như gặp lại người quen.
"Nó đi lâu quá rồi. Chín năm."
Ông kể cái hũ do một người lái buôn ở Sóc Trăng đem tới trả năm 1990, trả lúc còn kịp. Ông giữ nó dưới chân tháp, tới năm 2006, sau đợt sửa tháp, mới hay nó mất.
Tôi hỏi ông vụ khách đứng trước quán đêm qua. Ông achar nói nó kêu khách về để kêu chủ về. Nó đói, chủ đi xa, nó kêu mạnh hơn.
Lễ làm ngay chiều đó. Ba vị sư ngồi trên chiếu hoa trong chánh điện, tụng kinh tiếng Pali, tiếng trầm và đều như nước chảy. Ông dùng con dao nhỏ cạy lớp sáp ong, cả lớp sáp đèn cầy tôi trám vụng hôm nọ.
Củ ngải nằm trong lá chuối khô, đen hơn lần tôi thấy. Cái mầm trắng giờ dài gần một gang tay, cong vòng lên như cổ con cò, đầu mầm mọc ra hai cái lá non xanh mướt. Tôi nhìn cái mầm, nghĩ tới bảy tháng múc chén đầu nồi.
Ông achar đưa ông Ba hai tờ giấy vàng. Ông Ba đốt tờ của mình trước. Lửa liếm qua chữ Lê Văn Thạnh, Bính Thân, giờ Dần, qua dấu ngón cái mực đỏ. Rồi ông đốt tờ của ông Sáu Bình. Tờ giấy cũ cháy nhanh, tro bay lên, trắng như bột.
Tôi rót nước trong bình thủy ra cái chén sứt hai chỗ. Nước lèo còn ấm, trong như nước trà, mấy giọt mỡ vàng như hạt cườm. Ông Ba bưng chén bằng hai tay, y như mỗi sáng ông bưng lên tủ thờ.
Ông uống một hơi. Ông đặt chén xuống, liếm môi. Rồi ông lắc đầu.
"Hổng có mùi gì hết con."
Cái mầm trắng trên củ ngải rũ xuống. Hai cái lá non quăn lại, ngả màu nâu, rồi đen, chỉ trong mấy hơi thở. Ông achar bọc củ ngải trong một miếng vải trắng, đem ra sau tháp, chôn dưới gốc cây thốt nốt già nhất. Cái hũ men xanh, ông cất trở lại dưới chân tháp, khoá ổ đồng.
Lúc chúng tôi ra về, nắng đã xế. Tôi quay lại nhìn cổng chùa.
Ông Sáu Bình đứng ở đó, sát cột cổng. Vẫn cái áo ba lỗ ngả vàng, quần xà lỏn. Ông đưa tay phủi hai vai, phủi chậm rãi, kỹ lưỡng như người vừa xong một ca lò. Bột trắng rơi xuống hết, vai áo ông trắng sạch. Ông nhìn tôi, gật đầu. Rồi ông đi xuống con đường đất đỏ, về phía bến đò, đi tới khúc quẹo thì không thấy nữa.
Ông achar đưa lại cho tôi cái chén sứt hai chỗ.
"Cái chén hổng có tội. Con giữ đi. Để ngửa, đừng đựng gì hết. Ngửa ra cho người ta thấy nhà này hết đồ đưa rồi."
Quán Thạnh Phát ế lại ngay tuần sau, rồi khá lên chút xíu, khách lai rai đủ trả tiền mặt bằng. Ông Ba bán chiếc Air Blade, dì Ba bán sợi dây chuyền, trả hết nợ. Thằng Phúc lành xương đòn, ra trường, đi làm ở Bình Dương.
Chú Hai Lựu mua lại được chiếc xe cũ. Anh Năm Đen đòi được nửa số tiền bị quỵt. Cô Diệp được điều về trường gần chợ. Bà Sáu ở Long An nghe tôi kể qua điện thoại thì khóc, nói bà sẽ về Cai Lậy làm đám giỗ cho ông Sáu cho đàng hoàng. Ông Chín mất cuối năm đó, đứa cháu gái nhắn tin cho tôi. Còn tôi, hơn một tháng sau dì Ba nói mặt tôi hồng lại, cái thèm nước lèo ban đêm cũng hết.
Ông Ba sống. Tới giờ ông vẫn sống, ngoài bảy mươi, gầy và còng. Nhưng ông không bao giờ nếm được nữa. Ăn gì cũng như nhai giấy, uống gì cũng như nước lã. Tôi ở lại quán thêm hai năm, ngày nào cũng nêm nồi nước lèo cho ông, ông đứng bên nhìn tôi nếm.
Năm 2017 tôi về Chợ Gạo, mở một xe hủ tiếu ở đầu chợ. Sáng nào nước vừa gợn, tôi cũng múc vá đầu tiên, rồi đổ trở lại vô nồi.
Cái chén sứt hai chỗ, tôi để ngửa trên nóc tủ thờ Thần Tài nhỏ trong góc xe. Trống trơn, không đựng gì. Chỉ có vài buổi sáng sớm, trời còn xám, tôi thấy trong lòng chén đọng một lớp hơi nước mỏng, như có ai vừa cúi xuống thở vào, rồi tan.