☾ Truyện Ma Có Thật
← Chén nước lèo trên tủ thờ

Chương 10: Ông thầy ở Tịnh Biên

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Chúng tôi đi chuyến xe đò sớm nhất từ bến Mỹ Tho lên Châu Đốc. Quán treo bảng nghỉ hai ngày. Ông Ba mang theo cái hũ, bọc trong cái giỏ mây ướt đã phơi khô, bỏ vô một cái thùng giấy, ôm trên đùi suốt đường. Tôi xách cái chén sứt hai chỗ, gói trong khăn.

Xe chạy gần bảy tiếng. Lúc dừng ăn trưa ở Long Xuyên, ông Ba ăn hai muỗng cơm tấm rồi đẩy dĩa qua cho tôi. Từ Châu Đốc, chúng tôi đi xe ôm lên Tịnh Biên, đường men chân núi, hai bên là ruộng thốt nốt.

Căn nhà lá ông Ba nhớ đã bị dỡ. Chỗ đó giờ là một tiệm bán điện thoại. Hỏi tới người thứ năm, một bà bán nhang đèn mới chỉ chúng tôi vô một dãy phòng trọ sau chợ.

"Ông Chín liệt rồi. Hai năm nay. Ở nhờ con cháu gái."

Phòng trọ thấp, lợp tôn, nóng như lò. Một cái quạt máy cũ quay qua quay lại, kêu rè rè. Ông Chín nằm trên cái giường tre, nửa người bên trái teo lại, tay co quắp như chân gà. Một bên mắt ông trắng đục như lòng trắng trứng luộc. Mùi dầu gió với mùi người bệnh nằm lâu ngày quện vào nhau.

Ông không giống ông thầy trong lời dì Ba kể. Ông là một ông già người Kinh, giọng Long Xuyên, ốm, đen, gò má nhô.

Ông Ba đặt thùng giấy xuống đất, mở nắp. Con mắt còn lành của ông Chín nhìn cái hũ men xanh. Ông nhắm mắt lại.

"Tui biết thế nào cũng có ngày này."

Ông Ba hỏi cách trả. Ông Chín sai đứa cháu gái đi mua chai nước suối, chờ nó đi rồi mới nói.

"Chú Ba. Tui nói thiệt với chú. Ngải này hổng có ăn khách."

Ông Ba ngồi im.

"Tui nói vậy, chú mới mua. Người ta nghe ngải hút khách thì người ta mua, ai cũng nghĩ khách là người dưng, hút chút xíu của người dưng thì có sao. Ai mà nghe ngải hút mình thì ai mua."

Ông Chín kể bằng cái giọng đều đều, như người kể chuyện của ai khác.

Năm 2006, ông làm thợ hồ, đi sửa cái tháp cốt sau một ngôi chùa Khmer bên kia sông Hậu, trong một sóc nhỏ ở Trà Ôn. Ông achar coi chùa có một cái phòng nhỏ dưới chân tháp. Người ta nuôi ngải mà muốn bỏ thì đem tới đó trả, ông achar làm lễ, cất trong đó. Ông Chín lén lấy ra một cái hũ, cái hũ men xanh này. Ông nghe người trong sóc nói đó là ngải đổi phần.

"Đổi phần là sao?" tôi hỏi. Tiếng tôi run.

"Là chủ đưa phần của mình, nó đem người tới cho. Chủ đưa tên, đưa tuổi, điểm chỉ. Rồi mỗi ngày chủ đưa nó một miếng đời mình. Nước đầu nồi là phần ngọt nhất của nồi. Chủ tự tay múc, tự tay đưa. Phần đó là phần đời của chủ, chớ hổng phải nước lèo."

Tôi nghe trong đầu tiếng ông Ba khấn mỗi sáng. Phần con, con đưa rồi đó.

"Còn khách?" ông Ba hỏi. Giọng ông khàn đặc. "Khách xanh xao, khách xui. Cô giáo đó, thằng Năm đó…"

"Ngải ăn phần ngọt của chú. Cái cặn, cái xui, cái phần đắng trong vận của chú, nó nhả ra. Nhả vô nồi, theo tô ra khách. Khách ăn ké cái xui của chú, nên khách xanh, khách mất xe, khách té. Ai ăn nhiều dính nhiều, ngưng ăn là hết."

Tôi nhớ cô Diệp nói từ hồi không ăn nữa thì hết xui. Tôi nhớ thằng Tư bán cá hồng hào lại khi ông Sáu chết. Tôi nhớ ông Ba nếm nước lèo mặn đắng mà nói lạt, quên tuổi mình trước mặt anh cán bộ phường. Thằng Phúc té xe, anh Tài gãy chân. Cái xui đó không phải của khách. Là của ông, tràn ra xung quanh ông.

"Ngải đổi phần thì đổi tới đâu?" ông Ba hỏi.

"Tới khi chủ hết phần ngọt. Lúc đó nó hổng chờ chủ múc nữa. Nó tự múc. Ban đêm nồi tự sôi là nó tự lấy. Lấy cho tới hết."

Ông Chín quay con mắt lành về phía tôi.

"Con thấy nồi sôi ban đêm rồi phải hông?"

Tôi gật. Tôi nói từ đêm đầu tiên.

Ông Chín nói cái hũ đã qua tay ông Sáu Bình năm 2008, ông Sáu đưa hết phần, chết năm 2010. Bà Sáu đem hũ trả, đòi lại tiền. Ông không đem về chùa. Ông cất, chờ người mua kế.

"Ông Sáu đâu có ác," ông Chín nói. "Tui nói với chú vậy cho chú yên bụng. Tờ giấy ổng còn nằm trong hũ thì ổng còn bị giữ. Ổng chết rồi mà ổng hổng đi được. Ổng phải ngồi coi người kế ổng trả."

Tôi nghĩ tới ông già vai lấm bột ngồi ở bàn góc, ăn tô nước lèo không có hơi khói, lắc đầu. Nó ăn lạt quá con ơi. Phần của ông Ba đã lạt, ông Sáu biết.

Con đừng múc dùm nó. Ai múc thì nó ăn người đó. Ông không doạ tôi. Ông giữ tôi lại.

Ông Ba ngồi trên ghế nhựa, hai tay buông thõng. Rồi ông bật cười, cười tới chảy nước mắt, cười tới ho. Ông khạc ra một bụm nước nâu, mùi hồi quế, ngay trên nền xi măng phòng trọ.

"Vậy là tui hổng có hút ai hết," ông nói. "Tui hổng hút ai hết hả ông."

Ông Chín nhìn cái bụm nước nâu, rồi nhìn đi chỗ khác.

"Muốn trả thì phải đem về đúng chỗ tui lấy. Ông achar ở đó làm được. Chú phải tự tay đốt tờ giấy của chú. Rồi chú phải uống lại một chén nước đầu nồi cuối cùng, lấy lại cái phần mới đưa. Phần nó ăn rồi thì hổng lấy lại được đâu chú Ba."

Ông vẽ đường đi trên một tờ lịch cũ, nét mực run như con trùn bò.

Tối đó chúng tôi ngủ lại một nhà nghỉ ở Châu Đốc. Ông Ba nằm ôm thùng giấy. Tôi không ngủ được.

Gần nửa đêm, điện thoại tôi rung. Số chú Hai Lựu.

"Ngân hả con? Quán bây đóng cửa mà sao bếp sáng đèn vậy? Mùi nước lèo bay khắp bờ kè. Chú kêu cửa hổng ai trả lời. Mà con ơi…"

Chú ngừng. Tôi nghe tiếng xe chạy, tiếng gió sông trong máy.

"Khách đứng trước cửa sắt đông lắm. Mười mấy người. Đứng im re, hổng ai nói gì hết. Ai cũng cầm cái chén."