Chương 3: Hẻm sau chùa Bà
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi giấu đôi dép trong bọc ni lông, đem ra thùng rác đầu hẻm, không kể với má. Kể thì phải nói được bà đã ra khỏi nhà bằng cách nào, trong khi cửa trước then cài, cửa sau khoá ổ, chìa khoá nằm trong túi áo tôi. Tôi không nói được.
Từ bữa đó tôi không uống thuốc ngủ nữa. Ban đêm tôi nằm ghế bố cạnh giường bà, cứ chập chờn. Bà ngủ yên. Sáng ra dép bà khô.
Chiều thứ sáu, tôi chạy ra tiệm thuốc tây đầu đường mua thêm thuốc huyết áp. Đi chừng mười lăm phút. Trước khi đi tôi khoá cửa trước, bà ngồi trên xe lăn coi ti vi, nắng chiều còn vàng trên bậc thềm.
Lúc tôi về, ổ khoá vẫn khoá. Xe lăn trống.
Tôi chạy ra sau bếp. Cửa sau mở toang, then sắt bị kéo lệch. Trên gác lửng, hai cái móc treo trơ trọi, lớp bụi rớt xuống thành một vệt trên sàn gạch. Mùi gừng nấu đường đặc tới mức tôi thấy ngọt ở cuống họng.
Anh Lực sửa xe nhà bên đang ngồi vá ruột, ngước lên khi thấy tôi chạy ra.
"Bà Năm đó hả? Mới thấy gánh cái gì đi ra đầu hẻm, đi lẹ hơn tui. Tui kêu mà bả hổng ngó."
"Bà đi hướng nào anh?"
Anh chỉ tay về phía đường lớn, hướng Quận 5.
Tôi không nghĩ. Tôi dắt xe máy ra, chạy thẳng về phía chùa Bà Thiên Hậu. Trong đầu tôi chỉ có cái tên đó, cái tên bà nói đi nói lại bằng tiếng Quảng.
Giờ tan tầm, đường Nguyễn Trãi kẹt cứng. Mùi xăng trộn với mùi nhang từ mấy tiệm vàng mã hai bên. Tôi chạy chậm, ngó từng lề đường. Không thấy bà. Một bà già bảy mươi tuổi, chân teo, cõng một cái gánh gỗ, không thể đi xa vậy trong có hai mươi phút. Vậy mà tôi đã chạy gần tới chùa.
Chùa Bà nằm sát mặt đường, mái ngói xanh với những hình nhân gốm đứng san sát trên nóc. Khói nhang vòng treo trong sân bay ra tới vỉa hè. Tôi gửi xe trước cổng, hỏi người giữ xe đường ra phía sau chùa.
Phía sau chùa là một con hẻm nhỏ, hai bên nhà phố cũ bốn năm tầng, ban công giăng đồ phơi. Đầu hẻm có một tiệm thuốc bắc đóng cửa im ỉm, bảng hiệu đã gỡ, chỉ còn mấy vết đinh. Đi vô chừng hai chục thước, có một gốc me già, cành chìa qua tới ban công nhà bên kia.
Bà tôi ngồi dưới gốc me.
Bà ngồi trên một cái thùng gỗ úp ngược, cái thùng sơn đỏ của gánh. Thùng kia đặt trước mặt, nắp mở. Cây đòn gánh gác ngang hai thùng. Bà ngồi thẳng lưng, hai tay đặt lên đầu gối, cằm hơi nghếch lên, nhìn ra đầu hẻm. Tóc bà rối, xổ ra khỏi cây kẹp. Chân bà trần, đôi bàn chân gầy đen bụi đường.
Bà đang rao. Tôi nghe tiếng bà từ xa, cao và trong, ngân dài cuối câu. Tiếng Quảng. Tôi nhận ra chữ "chí mà phù", rồi những chữ khác tôi không hiểu. Không phải giọng bà ngoại tôi. Giọng một đứa con gái, khoẻ, vui, không sợ ai nghe.
Người trong hẻm đi ngang nhìn bà rồi đi tiếp. Một đứa nhỏ đứng ở cửa nhà ăn bánh, ngó bà.
Tôi đi tới. Tôi định kêu bà nhưng có ai đó nắm tay áo tôi.
Một bà cụ ngồi trên chiếc ghế xếp ở hiên nhà gần gốc me, trước mặt là cái bàn nhỏ bày nhang bó, giấy tiền, đèn cầy đỏ. Bà cụ tóc bạc trắng, cắt ngắn ngang tai, mặc bộ đồ bộ màu xanh đã sờn. Bà nhìn bà ngoại tôi, tay vẫn nắm áo tôi. Mặt bà cụ xám lại.
"Người nhà cô hả?"
"Dạ. Bà ngoại con."
Bà cụ không buông tay. Môi bà run. Bà nói nhỏ, như sợ bà tôi nghe:
"Chỗ đó... hồi xưa có đứa ngồi đúng chỗ đó."
Bà tôi ngưng rao. Bà quay đầu lại, nhìn về phía bàn nhang. Ánh mắt bà sáng lên như gặp người quen. Bà nói một câu tiếng Quảng, giọng mừng rỡ, rồi đưa tay vẫy vẫy.
Bà cụ bán nhang buông áo tôi ra. Bà đứng dậy, cái ghế xếp ngã ra sau. Bà lùi một bước, rồi một bước nữa, lưng đụng vô cửa sắt.
"Muội?" bà cụ kêu. Giọng vỡ ra như của con nít.
Bà tôi gật đầu, cười. Bà nói tiếp một tràng, tay chỉ xuống cái thùng đang mở nắp. Trong thùng không có gì. Lớp thiếc lót đã đen, đọng một ít nước mưa từ hồi nào. Nhưng bà tôi múc. Tay bà cầm một cái vá vô hình, múc lên, đổ vô một cái chén vô hình, rồi hai tay đưa về phía bà cụ bán nhang, như mời.
Bà cụ bán nhang không đưa tay ra. Bà đưa hai tay lên che miệng.
Mùi gừng lan ra trong hẻm. Đứa nhỏ ăn bánh hít hít mũi rồi chạy vô nhà.
Tôi tới bên bà ngoại, quỳ xuống, nắm tay bà. Tay bà lạnh như vừa ngâm nước, lạnh hơn nhiều so với cái nắng chiều còn sót. Bà nhìn tôi, không nhận ra. Bà nói một câu, giọng hơi giận, rồi giật tay lại.
Rồi đột nhiên bà xụi xuống. Không có dấu hiệu nào trước. Cái lưng thẳng tắp gập lại, đầu gục về phía trước. Tôi chụp lấy bà trước khi bà ngã khỏi thùng gỗ. Người bà nhẹ hều, mềm như cái áo.
Bà mở mắt, nhìn quanh, nhìn gốc me, nhìn dãy nhà, nhìn cái gánh. Môi bà mấp máy.
"Diễm... đây là đâu con?"
Tôi nói mình đang ở sau chùa Bà. Bà nghe xong thì cứng người trong tay tôi. Bà nhìn chân mình, đôi chân trần bụi đất. Rồi bà nhìn qua hiên nhà, nơi bà cụ bán nhang đang đứng.
Hai bà già nhìn nhau. Lâu lắm. Bà tôi quay mặt đi trước, úp mặt vô vai tôi.
"Đưa bà về. Đưa bà về đi con."
Tôi kêu xe ôm chở bà về trước, còn tôi ở lại buộc cái gánh lên yên xe máy. Lúc tôi cúi xuống đậy nắp thùng, bà cụ bán nhang đã dựng lại cái ghế, ngồi xuống, tay lần một chuỗi hạt.
"Bà biết bà con hả bà?" tôi hỏi.
Bà cụ lắc đầu.
"Hổng biết bà già đó. Tui biết cái giọng." Bà ngưng lần hạt. "Mà con nhỏ đó chết lâu gồi mà. Chết dưới kênh. Năm mươi năm gồi."